Sunday, August 12, 2012

Adolf Hitler

Bách khoa toàn thư mở Wikipedia
Bước tới: menu, tìm kiếm
Adolf Hitler
Hitler năm 1937
Hitler năm 1937
Nhiệm kỳ 2 tháng 8, 1934 – 30 tháng 4, 1945
Tiền nhiệm Paul von Hindenburg
(Tổng thống)
Kế nhiệm Karl Dönitz
(Tổng thống)
Nhiệm kỳ 30 tháng 1, 1933 – 30 tháng 4, 1945
Tiền nhiệm Kurt von Schleicher
Kế nhiệm Joseph Goebbels
Đảng Đảng Công nhân Đức Quốc gia Xã hội chủ nghĩa (NSDAP, Nazi, Quốc xã)
Sinh 20 tháng 4, 1889
Braunau am Inn, Áo-Hung
Mất 30 tháng 4, 1945 (56 tuổi)
Berlin, Đức
Nghề nghiệp chính trị gia, họa sĩ, quân nhân
Chữ ký Hitler signature.svg
Vợ hay chồng Eva Braun
(thành hôn 29 tháng 4, 1945)
(20 tháng 4 năm 1889  – 30 tháng 4 năm 1945) là Chủ tịch Đảng Công nhân Đức Quốc gia Xã hội chủ nghĩa (Nationalsozialistische Deutsche Arbeiterpartei, viết tắt NSDAP) từ năm 1921, Thủ tướng Đức từ năm 1933, là "Lãnh tụ và Thủ tướng đế quốc" (Führer und Reichskanzler) kiêm nguyên thủ quốc gia nắm quyền Đế quốc Đức kể từ năm 1934.
Ông thiết lập chế độ độc quyền quốc gia xã hội của Đệ tam Đế quốc, cấm chỉ tất cả các đảng đối lập và bức hại các đối thủ chính trị. Ông đã gây ra Đệ nhị thế chiến, thúc đẩy một cách có hệ thống quá trình tước đoạt quyền lợi và sát hại khoảng sáu triệu người Do Thái châu Âu cùng một số nhóm chủng tộc, tôn giáo, chính trị khác[1], được gọi là cuộc Đại đồ sát dân Do Thái (Holocaust).
Thời trẻ, Hitler muốn trở thành một họa sĩ, nhưng chưa từng được thành công. Về sau, Hitler trở thành một người theo chủ nghĩa dân tộc Đức cấp tiến. Trong chiến tranh thế giới lần thứ nhất, Hitler phục vụ trong Quân đội Đế chế Đức, từng bị thương, từng nhận hai tấm huân chương do chiến đấu anh dũng.
Thất bại của Đế chế Đức làm cho Hitler cảm thấy kinh ngạc và vô cùng phẫn nộ. Năm 1919, khi 30 tuổi, Hitler đã tham gia vào một nhóm cánh hữu nhỏ ở Munich. Không lâu sau, nhóm này đổi tên thành Đảng Công nhân Đức Quốc gia Xã hội chủ nghĩa, gọi tắt là Đảng Nazi. Hai năm sau, Hitler trở thành người lãnh đạo của Đảng này. Dưới sự lãnh đạo của Hitler, lực lượng Công nhân Đức Quốc gia Xã hội chủ nghĩa lớn mạnh rất nhanh. Vào năm 1923, Đảng Công nhân Đức Quốc gia Xã hội chủ nghĩa phát động một đợt chính biến được sử sách gọi là "Khởi nghĩa quán bia Munich". Sau khi thất bại Hitler bị bắt và bị xét xử, nhưng trên thực tế ngồi tù chưa được một tháng, thì Hitler được phóng thích.
Năm 1928, Công nhân Đức Quốc gia Xã hội chủ nghĩa vẫn chưa đủ mạnh; nhưng do công chúng cực kỳ bất mãn đối với các chính đảng đang tồn tại, Công nhân Đức Quốc gia Xã hội chủ nghĩa thừa cơ phát triển lên. Năm 1933, Hitler làm Thủ tướng Đức ở tuổi 44, đạt được mục tiêu của ông ta[2]. Sau khi lên nắm quyền, Hitler đã đàn áp các phe phản đối và xây dựng một nền thống trị độc tài. Nhiều nhân vật của phe chống đối bị giết không cần xét xử. Trong vài năm trước cuộc Đại chiến thế giới lần thứ hai, sự thống trị của Hitler đã được đại đa số người Đức ủng hộ nhiệt tình, vì đã giảm bớt thất nghiệp, nền kinh tế được phục hồi.
Sau đó, Hitler đã đẩy nước Đức vào con đường chinh phục bên ngoài, dẫn đến cuộc đại chiến thế giới lần thứ hai bùng nổ. Trên thực tế, Hitler không cần dùng vũ lực đã đạt được tham vọng lãnh thổ đầu tiên của mình. Khi đó, Anh và Pháp đang bị khốn đốn bởi các vấn đề kinh tế, một mực cầu hòa. Hitler hủy bỏ Hòa ước Versailles, tổ chức lại quân đội Đức. Năm 1936, quân Đức chiếm lĩnh khu vực Rheiland và thiết lập phòng thủ trong ba tháng; năm 1938, Hitler dùng vũ lực thôn tính nước Áo. Hai nước Anh và Pháp không có sự can thiệp nào đối với hành động đó của Hitler, thậm chí khi Hitler thôn tính khu vực phòng thủ trọng điểm của Tiệp Khắc tháng 9 năm 1938, Anh và Pháp cũng ngầm thừa nhận.
Năm 1940 là thời kỷ đỉnh cao của Hitler; quân đội Đức đánh chiếm Đan Mạch và Na Uy vào tháng 4, tháng 5 đánh chiếm Hà Lan, Bỉ và Luýchxămbua. Tháng 6 Pháp đầu hàng. Tháng 6 năm 1941, Hitler xé bỏ điều ước không xâm phạm Liên Xô, bắt đầu tấn công Liên Xô và chiếm được một vùng rộng lớn của Liên Xô; nhưng không tiêu diệt được quân đội Liên Xô.
Theo tác giả Panphilov (Giáo viên lịch sử Liên Xô của trường MGIMO Maxcva - Liên Xô) viết trong một cuốn sách của mình như là một sử gia đã từng tham gia cuộc Chiến tranh thế giới thứ hai thì trước khi quyết định xâm lược Liên Bang Xô Viết thì Hitler đã viết một bức thư cho trùm phát xít Ý là Benito Mussolini, qua đó ông cho rằng quyết định tấn công Liên Bang Xô Viết là quyết định khó khăn nhất trong cuộc đời của ông ta vì Liên Xô là một quốc gia khổng lồ. Vì lẽ đó nếu như năm 1941 khi tấn công Liên Xô theo kế hoạch của chiến dịch Barbarosa, kể cả khi Hitler đồng ý với ý kiến của các tướng lĩnh dưới quyền tấn công thẳng đến Moskva thì cũng không nhanh chóng đánh gục được Liên Xô bởi vì Ban Lãnh đạo Liên Xô lúc đó sẽ nhanh chóng sơ tán về miền Đông, dãy Uran để tiếp tục chỉ đạo cuộc kháng chiến. Sự sai lầm dẫn tới thất bại của Hitler khi tấn công Liên Xô là Hitler đã quá tự cao tự đại, coi thường người bạn đồng minh trong phe Trục của mình là Đế quốc Nhật Bản. Vì thế Nhật Bản đã không đưa quân lên phía Bắc, hiệp đồng với Quân đội Đức để tấn công Liên Xô ở mặt trận phía Đông mà dồn quân xuống phía Nam chiếm vùng Đông Á, để mặc một mình Hitler cố gắng xâm chiếm Liên Xô rộng lớn. Những nhà tình báo vĩ đại đã nắm được ý đồ đơn phương tiến hành chiến tranh của Hitler và giúp cho Ban Lãnh đạo Liên Xô có những phương án thích ứng để đối phó với Hitler.
Cuối năm 1942, Hitler đã thất bại trong hai chiến dịch ở Ai Cập và Stalingrad, đây là bước ngoặt của đại chiến thế giới lần thứ hai. Lực lượng quân đội Đức bắt đầu suy yếu; mặc dù thất bại là không tránh khỏi, nhưng Hitler kiên quyết không đầu hàng. Sau trận đánh tại Stalingrad, Hitler hạ lệnh cho làm lễ quốc tang 4 ngày.[3] Nhưng ông ta còn chịu đựng được hơn hai năm nữa. Mùa xuân năm 1945, ngày tận thế của Hitler đã đến. Ngày 30 tháng 4 năm 1945, Adolf Hitler tự sát ở thủ đô Berlin; vài ngày sau, phát xít Đức tuyên bố đầu hàng.
Hầu như tất cả các nhà viết tiểu sử Hitler đều nhấn mạnh sự khác nhau rất rõ giữa hai phần đời của ông ta. Đoạn đời trước tuổi ba mươi của ông, nếu so với mức bình dân thời đó chỉ được xem là khoảng đời không thành đạt, bởi Adolf Hitler không được đào tạo nghề nghiệp, không có mối quan hệ nào đáng kể, sau thất bại của nước Đức trong Chiến tranh thế giới lần thứ nhất ông là một người lính không có triển vọng và hơn hết là ông không có những cá tính đặc thù để có thể giải thích một cách thuyết phục được sự thăng tiến sau đó của mình. Mặc dù vậy, nhân vật này chỉ trong vòng vài năm đã bước lên ngôi Thủ tướng Đức và cuối cùng, đã trở thành người cầm quyền độc tài, cai trị phần lớn châu Âu. Adolf Hitler là một trong số ít các nhân vật trong lịch sử nhân loại đã phát huy một năng lực hủy hoại hiếm thấy.
Từng có truyền đơn nổi tiếng của Đức Quốc Xã coi Adolf Hitler là chính khách mới nhất trong chuỗi một loạt các chính khác tài năng của nước Đức kể từ thời vua Friedrich II Đại Đế, tới Thủ tướng Otto von Bismarck, rồi lại đến Tổng thống Hindenburg.[4] Bản thân vị Lãnh tụ cũng luôn luôn ví von ông ta với vua Friedrich II Đại Đế (trị vì: 1740 - 1786), nhân dân Phổ có truyền thống lịch sử hào hùng gắn liền với chủ nghĩa anh hùng của vị vua này[5]. Adolf Hitler cũng rất vui khi ông ta nghe nói rằng vua Friedrich II Đại Đế cứng rắn với các võ quan, từ đó ông ta có lý lẽ để biện minh cho những hành vi của chính mình. [6]
Thực chất, chế độ độc tài Đức Quốc Xã của ông ta không hề là sự nối tiếp của truyền thống Phổ. Những người lên nắm quyền thường phải tự bảo mình là "con cháu người xưa" để có được quyền thống trị hợp pháp. Đảng Quốc Xã đọc về lịch sử vinh quang của nước Phổ, của vị vua - chiến binh Friedrich II Đại Đế cũng thường không đến nơi đến chốn, móp méo. [5] Vị vua này bị những người Quốc Xã phóng đại. [7]

Mục lục

Gia thế

Sơ lược gia phả của Adolf Hitler
Waldviertel, Hạ Áo, quê quán của Adolf Hitler
Hitler luôn giữ bí mật gia thế và cuộc sống của mình trước khi tham gia chính trị. Ông nói các đối thủ chính trị của mình vào năm 1930: "Họ không được biết tôi từ đâu đến và xuất xứ từ gia đình nào" (nguyên văn tiếng Đức "Sie dürfen nicht wissen, woher ich komme und aus welcher Familie ich stamme"). Vào năm 1938, ngay sau khi sáp nhập Áo vào Đức, chính Hitler đã ra lệnh tản cư và sau đó san bằng các ngôi làng Döllersheim và Strones, là hương quán của ông bà cũng như bố mẹ ông nằm tại Waldviertel, khu vực phía Tây Bắc của tiểu bang Hạ Áo (Niederösterreich), để xây một doanh trại đào tạo lính (Allentsteig). Theo Krockow, Kershaw và những nhà viết tiểu sử Hitler, nguyên nhân có thể là những bí ẩn của khả năng loạn luân trong gốc gác của Adolf Hitler. Tự truyện Mein Kampf (Cuộc tranh đấu của tôi) của Adolf Hitler được nhiều học giả đánh giá là một nguồn thông tin không tin cậy về cuộc đời của ông, vì nó mang nhiều bịa đặt và nhiều nhận định thổi phồng.
Gia đình Hitler có gốc từ vùng Waldviertel, Hạ Áo, cạnh biên giới với Tiệp Khắc. Nguồn gốc của dòng họ Hitler không được rõ và trong thế kỷ 19 cách viết họ này còn thay đổi lẫn nhau giữa Hüttler, Hiedler và Hitler.

Tiểu sử

Hitler khi còn là đứa trẻ.
Mẹ của Hitler
Adolf Hitler sinh ngày 20 tháng 4 năm 1889 tại Gasthof zum Pommer, một quán trọ ở Ranshofen,[8] một ngôi làng được sáp nhập vào năm 1938 với 1 thành phố của Braunan, Áo-Hung. Ông là người con thứ tư trong sáu người con của Alois Hitler, một viên chức hải quan với bà Klara Hitler, là vợ thứ ba gốc Áo và cũng là cháu gái cột chèo hệ thứ hai với chồng, Alois Hitler.[9]
Trong sáu anh chị em gồm Gustav, Ida, và Otto – chết khi sơ sinh [9] thì chỉ Adolf Hitler và em gái Paula Hitler là sống đến tuổi thành niên. Cha của Adolf Hitler là con trai ngoài giá thú giữa một cô gái nhà nông, bà Anna Maria Schicklgruber và ông Johann Georg Hiedler, người không bao giờ công nhận đứa con này. Sau một khoảng thời gian lâu sau khi cha mẹ mất, vào năm 1876 khi được 40 tuổi Alois đổi họ thành Hitler, việc mà Adolf Hitler luôn đề cao ở cha mình. Nepomuk, em trai của Johann Georg Hiedler đã tuyên thệ tại văn phòng công chứng, rằng anh mình, chồng kế của bà Anna Maria Schicklgruber là cha của Alois.
Alois Hitler còn có một con trai ngoài gia thú, Alois Hitler con và một con gái từ đời vợ thứ hai. Năm Hitler lên 3 tuổi, gia đình chuyển tới Passau, Đức.[10] Trong tự truyện "Cuộc tranh đấu của tôi", Hitler miêu tả bố mình là một người chuyên quyền, nóng tính. Nhưng thực thế, không có một bằng chứng nào cho thấy Alois Hitler giáo dục con mình nghiêm khắc hơn với mặt bằng xã hội thời đó.
Có thể kết luận rằng Hitler không biết chắc ai là ông nội của mình. Đây là một vấn đề nguy hiểm, có thể đe dọa vị trí chính trị của Hitler, một chính trị gia ngày càng được nhiều người biết đến từ thập niên 1920 nhờ các tuyên truyền ý thức hệ chủng tộc của ông. Các đối thủ chính trị của Hitler lúc đó cũng đã cố tìm cách chứng minh rằng người lãnh đạo tối cao của đảng Quốc xã, Adolf Hitler lại chính là người có gốc gác Do Thái hoặc người Séc. Theo những kết quả nghiên cứu hiện nay, việc này khó có thể là sự thật và những lời đồn đại này chưa từng được chứng minh rõ ràng. Nhưng đối với Hitler, các vấn đề này rất có thể là nguyên nhân bắt ông ra sức che dấu lí lịch của mình.

Học vấn

Vào năm 1895 ở tuổi 58 cha ông nghỉ hưu, khi đó Adolf Hitler được sáu tuổi, ông theo học một trường công lập ở gần thị trấn Linz, nước Áo. Đến năm 11 tuổi, ông học trường trung học ở Linz. Cha ông hy sinh về mặt tài chính vì con và trông mong Adolf Hitler sẽ trở thành một công chức, nhưng ông luôn chống lại ý tưởng này một cách quyết liệt. Ông kể trong quyển "Cuộc tranh đấu của tôi": "Tôi không muốn trở thành công chức, không, nghìn lần không... Tôi... ớn đến tận cổ với ý nghĩ ngồi trong một văn phòng, đánh mất mọi tự do; không còn làm chủ cho thời gian của mình..."
Điểm số của Adolf Hitler ở trường trung học Linz kém đến nỗi ông phải chuyển qua học trường công lập ở Steyr. Ông chỉ theo học trường này một thời gian ngắn rồi bỏ dỡ, trước khi học xong chương trình. Thất bại ở trường học dày vò Hitler trong đoạn đời về sau, khi ông dùng nhiều từ nhục mạ để nói về những người thầy dạy mình ở trường học thời tuổi nhỏ. Sau này Hitler giải thích, một trong những nguyên do khiến ông học hành kém cỏi, rồi cuối cùng bỏ học là vì muốn chống lại ý muốn của cha ông: "Tôi nghĩ rằng khi cha tôi thấy tôi không tiến bộ ở trường học, ông sẽ cho tôi dồn thời gian vào giấc mơ của tôi, dù cho ông thích hay không."
Cha của Hitler qua đời năm 1903, hưởng thọ 65 tuổi khi Adolf Hitler được mười ba tuổi. Mẹ ông lúc này đã 42 tuổi, bà cố gắng nuôi hai con là Adolf và Paula bằng số tiền dành dụm ít ỏi và khoản lương hưu nhỏ nhoi. Bà vẫn muốn con trai mình trở thành một công chức, nhưng người con vẫn chống đối. Vì thế, dù giữa hai mẹ con có sợi dây tình cảm thân thương gia đình vẫn có xung đột, và Adolf tiếp tục lười học. Sau này, Hitler xem quãng đời từ 16 đến 19 tuổi của mình là những ngày đẹp nhất trong cuộc đời ông. Dù cho mẹ ông gợi ý và những người thân động viên để ông học nghề và tìm việc làm, ông vẫn chỉ muốn rong chơi và mơ đến ngày nào sẽ trở thành một họa sĩ. Tuy bà mẹ hay đau yếu và túng quẫn, Adolf vẫn không muốn đỡ đần. Ông luôn căm ghét ý tưởng làm một nghề cố định nào đấy để sinh sống. Chính trong khoảng thời gian này, ông chán nản học hành nhưng lại đọc rất nhiều sách, sau khi đăng ký làm thành viên của thư viện và bảo tàng địa phương.

Thời niên thiếu ở Viên và Munich

Năm 1906, khi vừa lên 17 tuổi, với một khoản tiền do bà mẹ và những người thân khác cung cấp, Hitler đi đến sống ở thủ đô Viên của nước Áo. Anh dò hỏi việc theo học Viện Hàn lâm Nghệ thuật Viên, và năm sau dự kỳ thi tuyển sinh trong ước vọng trở thành họa sĩ. Nhưng mộng không thành: bài dự thi của anh không đủ điểm. Hitler cố dự thi lần nữa vào năm sau, nhưng lần này vẫn không đạt. Trong lúc ấy, bà mẹ đang hấp hối vì chứng ung thư. Trong ba năm, bà và dòng họ đã cố gắng chu cấp cho người trai trẻ mà không thấy kết quả gì. Ngày 21 tháng 12 năm 1908, bà qua đời. Bốn năm kế tiếp, từ năm 1909 đến 1913, là giai đoạn khốn khó cùng cực đối với Hitler. Ông không thiết tha việc học nghề chuyên môn hoặc nhận bất kỳ việc làm thường xuyên nào. Thay vào đấy, ông nhận công việc lặt vặt: quét tuyết, di chuyển hành lý ở ga tầu hỏa, đôi lúc làm công nhân xây dựng trong vài ngày. Tháng 11 năm 1909, không đầy một năm sau khi đến thành Viên, ông phải rời bỏ căn hộ cho thuê có nội thất để sống 4 năm kế tiếp trong một phòng trọ rẻ tiền hoặc trong khu nhà trọ lụp xụp, và phải dùng bữa ở bếp ăn từ thiện cho qua cơn đói.
Từ việc đọc sách ở thành Viên, Hitler đã tiếp nhận những ý tưởng nông cạn và xoàng xĩnh, thường là phi lý và lố bịch, lại bị đầu độc bởi những thiên kiến kỳ dị. Những ý tưởng ấy tạo thành một phần nền tảng cho Đế chế Thứ Ba mà Hitler trẻ, ham đọc sách sắp gây dựng nên. Dù không trực tiếp can dự vào chính trị, Hitler theo dõi sát sao hoạt động của ba đảng phái chính của Áo. Việc này đã nảy sinh đầu óc sắc sảo về chính trị giúp Hitler nhìn rõ mặt mạnh và mặt yếu của những phong trào chính trị đương thời. Theo thời gian, đầu óc trưởng thành như thế đã biến Hitler thành một chính trị gia bậc thầy của nước Đức. Ông nghiên cứu những hoạt động của Đảng Dân chủ Xã hội Áo, rồi đi đến 3 kết luận giải thích tại sao đảng này đã thành công: họ biết tạo ra phong trào quần chúng mà nếu thiếu nó, đảng sẽ không có thực quyền; họ đã lĩnh hội được nghệ thuật tuyên truyền trong quần chúng và họ hiểu được giá trị của phương pháp mà ông gọi là "sự khủng bố tâm linh và thể chất".
Ông bắt đầu tập luyện tài hùng biện đối với những cử tọa ông tìm được ở khu nhà trọ, bếp ăn từ thiện, góc đường phố. Dần dà, việc này phát triển thành một kỹ năng đáng sợ hơn là bất kỳ kỹ năng nào giữa hai trận thế chiến, và đóng góp phần lớn vào thành công đáng kinh ngạc của Hitler. Và cuối cùng, Hitler đã có kinh nghiệm về người Do Thái trong thời gian sống ở Viên. Dù Hitler sau này kể lại là ông không để ý gì đến người Do Thái lúc còn sống ở Linz, nhưng theo một người bạn thời tuổi trẻ của Hitler thì sự thật khác hẳn. Lúc từ Linz đi đến Viên, Hitler đã sẵn mang tư tưởng bài Do Thái.
Mùa xuân 1913, Hitler vĩnh viễn rời xa thành Viên để đến sống ở nước Đức. Lúc này Hitler được 24 tuổi, và mọi người đều thấy là ông hoàn toàn thất bại trong cuộc đời. Ông đã không thể trở thành một họa sĩ, hoặc một nhà kiến trúc. Dưới con mắt của mọi người, ông chẳng là gì cả mà chỉ là một gã lông bông, không có bạn bè, không gia đình, không công ăn việc làm, không có mái ấm. Tuy nhiên, ông có một thứ: lòng tự tin không gì dập tắt được và một ý thức về sứ mệnh nung nấu trong tim.

Những thành công của Hitler

Xét qua một người không có học vấn, chỉ mang cấp bậc hạ sĩ trong Đệ nhất thế chiến, không có nhân thân tốt, không người đỡ đầu, không gia sản, những thành tựu mà Hitler đạt được trong các lĩnh vực ngoại giao, kinh tế và quân sự là không thể giải thích nổi.
Sự hồi phục kinh tế của Đức sau chiến tranh là thành tựu nổi bật, mà trong đảng cũng như các nhà kinh tế nước ngoài ca ngợi là phép lạ. Số người thất nghiệp từ 6 triệu năm 1932 giảm còn không đến 1 triệu bốn năm sau. Sản lượng và thu nhập quốc nội tăng gấp đôi trong thời gian 1932-37. Tuy Hitler không giỏi về kinh tế, ông quy tụ được những kinh tế gia giỏi, đặc biệt là tiến sĩ Hjalmar Schacht, được coi như là nhà phù thủy kinh tế. Về quân sự, từ quân đội bị Hòa ước Versailles hạn chế ở mức 100.000 người, Hitler tăng quân số lên gấp ba vào cuối năm 1934. Khi phát động tiến công Liên bang Xô viết năm 1941, Đức huy động 3,2 triệu quân tiến theo trận tuyến dài 1.600 kilômét.
Hitler (phải) và Mussolini năm 1937
Trước đó, sau khi Quân đội Đức tràn sang Ba Lan, chỉ trong vòng 48 giờ, Không quân Ba Lan đã bị hủy diệt, phần lớn trong số 500 máy bay hiện đại trúng bom của máy bay Đức trước khi có thể cất cánh. Quân đội Ba Lan tan nát chỉ sau một tuần. Thủ đô Warszawa thất thủ trong vòng 4 tuần. Vào ngày 6 tháng 10 năm 1939, tại Kock, quân Ba Lan đại bại buông súng.[11] Vào ngày 3 tháng 9 năm ấy, Anh Quốc và Pháp tuyên chiến với Đức. Dù hứa hẹn là sẽ xâm lược miền Tây Đức vào ngày 17 tháng 9 để hỗ trợ Ba Lan nhưng Pháp đã thất hứa. Quân Ba Lan một thời lừng vang đã tiêu tùng trước quân đội hùng mạnh của Hitler.[12] Sau khi đại thắng quân Ba Lan thì Hitler bắt đầu chuyển tầm hướng của ông về phương Tây. Vào ngày 23 tháng 10 năm 1939, ông nói với các tướng soái của mình là sẽ "tấn công Pháp và Anh ở một thời điểm thuận lợi và nhanh chóng nhất".[11]
Toàn thắng ở phía Đông rồi thì Hitler quyết tâm đánh Bắc Âu. Trách nhiệm được thực hiện bởi OKW (Oberkommando der Wehrmacht - Bộ Tư lệnh lực lượng vũ trang), vì vị Lãnh tụ lo sợ rằng việc Anh - Pháp ủng hộ Phần Lan (đang bị quân Liên Xô tấn công) sẽ gây tổn hại cho tiếp tế của Đức.[12] Ngày 9 tháng 4 năm 1940, Quân đội Đức đồng loạt tấn công Đan Mạch và Na Uy. Quân Đan Mạch nhanh chóng đầu hàng, nhưng quân Na Uy vẫn còn ngoan cố kháng cự. Cùng lúc ấy, hạm đội Anh xuất hiện ở bờ biển Na Uy. Tuy lực lượng quân Đức ở đây thật yếu ớt, quân Anh vẫn không tấn công và về nước. Sau, hạm đội Anh quay trở lại thì người Đức đã xây dựng được khu vực chiếm đóng được trên đất địch và dễ dàng cho quân đổ bộ lên Vương quốc Na Uy. Từ ngày 14 tháng 4 cho đến ngày 20 tháng 4 năm ấy, liên quân Anh - Pháp - Ba Lan đổ bộ lên Andalsnes, Harstadt, Namsos và Narvik. Hai cuộc đổ bộ đầu tiên là để tạo gọng kìm đánh về Trondheim. Tuy nhiên, cuộc tấn công thất bại và vào đầu tháng 5 quân Đồng Minh phải rút lui. Quân Đồng Minh chiếm cứ được Narvik trong một thời gian ngắn, và rút lui vào tháng 6 khi tình hình Pháp trở nên nguy kịch. Vào ngày 9 tháng 7 năm 1940, nhà vua Na Uy là Haakon VII phải xin hàng.[13]
Sau khi quân Đức thắng lớn trong cuộc chiến với Đan Mạch và Na Uy thì họ bắt đầu tiến đánh Pháp và Vùng đất thấp vào ngày 10 tháng 5 năm 1940.[11] Trong lần này, ông sẽ không thực hiện kế hoạch "chích máu giặc Pháp" như hồi trận Verdun trong cuộc Chiến tranh thế giới lần thứ nhất vào năm 1916. Phe Đồng Minh bị choáng váng. Thủ tướng Anh Quốc là Neville Chamberlain phải từ chức và Winston Churchill lên thay. Quân Đức dội bom, Hà Lan đại bại tơi bời. Chỉ trong vòng 10 ngày thôi mà gần 30 vạn quân Đồng Minh bị mắc bẫy tại bờ biển nước Bỉ và Pháp. Từ ngày 27 tháng 5 cho đến ngày 4 tháng 6, 338 nghìn binh lính được cứu vớt khỏi biển cả và cảng tại Dunkirk. Vào ngày 5 tháng 6 năm 1940, Quân đội Đức quyết định tiêu diệt 65 Tập đòan quân Pháp cách 650 cây số về phía trước. Năm ngày sau, Mussolini tuyên chiến với Pháp. Vào ngày 14 tháng 6 năm 1940, Quân đội Đức ca khúc khải hoàn tiến vào Paris. Hai ngày hôm sau, Chính phủ Pháp phải cầu hòa. Đáp lại, Hitler tổ chức ký kết thỏa ước ngừng bắn. Ông chọn nơi ký kết là toa tàu hỏa Compiègne - nơi nước Đức đầu hàng vào năm 1918. Nếu hồi ấy nước Đức đại bại và bị phân rã, thì Pháp đã phải chịu số phận tương tự vào năm 1940. Để đạt được chiến thắng huy hoàng này, Hitler chỉ mới 27 nghìn binh sĩ Đức. [14][11]
Cuộc tấn công thần tốc qua Pháp một phần là từ quyết định của Hitler. Trong phương án tấn công ban đầu, mũi tiến công chính của Quận đội Đức cũng giống như trong Đệ nhất thế chiến: đánh qua Bỉ và miền bắc nước Pháp vì địa hình bằng phẳng thuận lợi cho xe tăng. Vì thế Quân đội Đồng Minh tập trung quân phòng ngự vùng này. Riêng tướng Erich von Manstein, Tham mưu trưởng Tập đoàn quân A đề xuất mũi tiến công chính của Đức phải là qua vùng Ardennes bằng một lực lượng cơ giới mạnh mẽ. Vốn luôn để ý đến những giải pháp táo bạo và ngay cả khinh suất, Hitler quan tâm đến phương án mới. Kết quả là Đức đánh qua nơi mà Đồng Minh bị bất ngờ nhất, vì lẽ tướng lĩnh của họ – cũng như phần lớn tướng lĩnh Đức – đều xem vùng đồi núi này là không thích hợp cho xe tăng. Bằng chiến thuật Blitzkrieg (sấm sét), quân Đức tiến thần tốc đi vòng qua quân chủ lực của Đồng minh. Hầu như toàn bộ quân đội Pháp bị sụp đổ.
Nhưng rồi Quân đội Đức thất bại trong trận không chiến tại Anh Quốc (1940), là chiến bại quân sự thực sự đầu tiên của Hitler.[15] Song, đến giữa năm 1942, Đức Quốc Xã đã thôn tính khoảng 90% diện tích Tây Âu, chỉ trừ Thụy Điển, Anh, Bồ Đào Nha, Tây Ban Nha và Thụy Sĩ; còn ở Bắc Phi, Đức đang chiếm đóng Tunisia, Lybia và một phần Ai Cập. Có vài điểm pha trộn trong lĩnh vực chỉ huy quân sự của Hitler. Nhờ quyết định của ông, Đức đánh chiếm thần tốc các nước Bắc Âu với thiệt hại không đáng kể, chỉ một nhóm nhỏ bính sĩ Đức chiếm được pháo đài hiện đại Eben Emael của Bỉ, được xem là có cấu trúc kiên cố nhất Châu Âu, và đánh thần tốc qua Pháp.
Quyết định nhất quán của Hitler là quân Đức phải trụ lại nơi tiến quân chứ không được rút lui. Các tướng lĩnh Đức mâu thuẫn nhau về việc này. Một số chống đối, cho rằng đó là quyết định gây thêm thiệt hại cho Đức, nhưng một số tán thành, cho rằng trên chiến trường đầy băng tuyết, lệnh rút lui chỉ làm cho binh sĩ tháo chạy mà không có căn cứ ở phía sau để họ có thể lui về trú ẩn, và cũng không có phòng tuyến nào để trụ lại.

Những tố chất trong con người Hitler

Trong con người của Hitler có nhiều tố chất đặc biệt, mỗi tố chất phụ trợ và kết hợp với những tố chất khác giúp cho ông đi từ thắng lợi này đến thắng lợi khác, đánh bại hoặc dẹp tan những thể chế chính trị cộng hòa, quân đội, nghiệp đoàn.
Tinh thần ái quốc cực đoan
Tinh thần này vừa giúp Hitler chiếm được con tim của người dân Đức và tranh thủ được sự ủng hộ của quân đội. Ban đầu, các nước Đồng Minh chỉ nhận ra khía cạnh "ái quốc" trong con người Hitler, còn khía cạnh "cực đoan" thì được che giấu bởi tài hùng biện. Như đã nói, ông ta tự coi mình là người kế thừa của vua Friedrich II Đại Đế[5] - một vị vua lớn của Vương quốc Phổ xưa,[16] dù chế độ độc tài của ông ta thực ra chẳng mấy giống với vua Friedrich II Đại Đế. [5]
Việc làm đi đôi với lời nói
Một khi đã định hình tư tưởng, xuyên suốt qua cương lĩnh đảng, quyển sách Mein Kampf và những bài phát biểu, Hitler đều mang ra thực hiện những gì ông nói. Cũng có nhiều điều ông không làm như đã hứa, nhưng đấy là chiến thuật mị dân trong bước đầu khi Quốc xã muốn chiếm quyền lực bằng lá phiếu dân chủ. Còn lại, Hitler đều thi hành những sách lược chủ chốt đúng như ông đã nói. [cần dẫn nguồn]
Bản chất độc tài, chuyên chế
Bản chất này đã bộc lộ ngay trong giai đoạn Hitler mới gia nhập Đảng Lao động Đức, tiền thân của Quốc xã. Cũng nói là làm, Hitler đã trình bày rất rõ ý định thiết lập một nước Đức dưới chế độ chuyên chế, độc đảng, và đảng này dưới quyền một lãnh tụ chuyên chế.
Lừa dối
Tố chất này không đi ngược lại mà là bổ sung việc thi hành những gì đã nói. Có nghĩa là Hitler sẵn sàng lừa dối để nhằm thi hành những điều chủ chốt trong tư tưởng của ông. Cũng nhờ những tố chất này, Hitler đã chinh phục được giới thương mại và công nghiệp trong nước. Riêng hai cường quốc Anh và Pháp, ban đầu muốn trấn áp Đức nhưng kế tiếp lại muốn xoa dịu Hitler, mở đường cho ông thôn tính Áo và Tiệp Khắc. Đến khi Hitler hung hăng xâm lăng Ba Lan thì họ mới nhận ra tham vọng vô bờ bến của Hitler, nhưng đã quá muộn: Đệ nhị thế chiến xảy ra là điều tất yếu. [cần dẫn nguồn]
Tài hùng biện
Đây là một vũ khí rất lợi hại của Hitler. Nhờ tài hùng biện cộng với tính lừa dối, Hitler đã chinh phục được người dân Đức, giới quân đội, ngay cả giới truyền thông và các nhà lãnh đạo nước ngoài.

Tinh thần ái quốc cực đoan

Hitler: chiến binh dũng cảm

Vào mùa hè 1914, Đệ nhất thế chiến bùng nổ, và Hitler phải làm nghĩa vụ như hàng triệu thanh niên khác. Ông đầu quân cho một trung đoàn của vương quốc Bayern. Giống như hàng triệu người Đức khác, Hitler là một chiến binh can đảm. Sau này có vài đối thủ chính trị kết án ông là kẻ hèn nhát trong chiến tranh, nhưng không có chứng cứ nào trong hồ sơ hậu thuẫn lời kết án này. Hitler được thưởng huy chương hai lần vì tinh thần dũng cảm. Tháng 12 năm 1914 ông được thưởng huy chương Chữ thập Sắt hạng Nhì, và tháng 8 năm 1918 nhận huy chương Chữ thập Sắt hạng Nhất vốn ít khi được ban thưởng cho cấp binh sĩ trong Quân đội Đế chế cũ. Ông luôn mang tấm huy chương này một cách hãnh diện cho đến lúc chết.
Hitler và Mannerheim, nhà lãnh đạo Phần Lan
Tuy thế, Hitler là một người lính kỳ lạ. Không có thư từ hoặc quà tiếp tế từ gia đình gửi đến như thường thấy ở những binh sĩ khác. Ông không bao giờ xin nghỉ phép; ông không hề để ý đến phụ nữ như những người lính khác. Giống như những chiến binh quả cảm nhất, ông không bao giờ phàn nàn về tình trạng hôi thối, chấy rận, bùn lầy nơi chiến trường. Ông tỏ ra là một chiến binh hăng say, luôn luôn cực kỳ nghiêm túc trong mọi mục đích của chiến tranh và vận mệnh của nước Đức.
Hitler kể rằng từ lúc đứng trước ngôi mộ bà mẹ mới mất, ông mới bật khóc lần nữa, khi nghe tin Đức thất trận. Giống như hàng triệu người Đức khác lúc ấy và mãi về sau, Hitler không thể chấp nhận thực tế khốc liệt là nước Đức đã chiến bại. Ông càng không thể chịu đựng được tấn thảm kịch ập xuống quê hương thân yêu của ông vào tháng 11 năm 1918. Đối với ông, cũng như đối với mọi người Đức, Quân đội Đức không thua trên trận tuyến, mà bị kẻ phản quốc ở hậu phương (bị gán bằng cụm từ "tội đồ Tháng Mười một") đâm sau lưng. Vì thế mà trong thâm tâm của Hitler cũng như của nhiều người Đức, sự tin tưởng quá khích đối với "truyền thuyết đâm sau lưng" dần dà làm suy yếu nền Cộng hòa và dọn đường cho Hitler cuối cùng lên nắm chính quyền.
Cố dằn lòng vì bị cấm phát biểu trước công chúng, Hitler hùng hục lao vào công việc tái lập Đảng Quốc xã và biến nó thành một tổ chức mà Đức chưa hề thấy từ trước đến giờ. Ông có ý đồ tổ chức đảng như là một quân đội – một nhà nước trong một nhà nước. Công tác đầu tiên là thu hút đảng viên nộp phí gia nhập. Vào cuối năm 1925, chỉ có 27.000 đảng viên. Đảng Quốc xã phát triển một cách chậm chạp, nhưng mỗi năm đều có tiến bộ: 49.000 đảng viên năm 1926; 72.000 năm 1927; 108.000 năm 1928; 178.000 năm 1929. Hitler thành lập cơ sở đảng hoàn chỉnh tương ứng với tổ chức hành chính của Đức và cũng giống với xã hội Đức. Nước Đức được chia ra thành vùng (gaue), tương đương với 34 đơn vị trong các kỳ bầu cử Nghị viện, và Hitler đích thân bổ nhiệm đảng viên làm gauleiter (tương đương với xứ ủy) đứng đầu mỗi vùng. Mỗi vùng được chia ra thành những cấp nhỏ hơn. Riêng thành phố được chia nhỏ thêm thành cấp khu phố và cấp tổ dân phố.

Tái vũ trang nước Đức

Vì tinh thần ái quốc cực đoan, Hitler theo đuổi một cách không mệt mỏi chương trình tái vũ trang, qua đó được sự hậu thuẫn mạnh mẽ của Quân đội. Bước đầu tiên là tăng quân số lên gấp ba – từ 100.000 (giới hạn của Hòa ước Versailles) lên 300.000 quân tính đến ngày 1 tháng 10 năm 1934. Trong thời gian này, Hải quân Đức bắt đầu đóng tàu thiết giáp và tàu ngầm, vi phạm Hòa ước Versailles. Không quân Đức đặt hàng thiết kế máy bay chiến đấu và đào tạo phi công quân sự. Các khu tất bật sản xuất súng đạn, tổng hợp nitrát từ không khí, sản xuất xăng tổng hợp và cao su nhân tạo từ than đá. Các cường quốc, dẫn đầu là Anh, đành phải chấp nhận chuyện đã rồi.
Ngày 16 tháng 3 năm 1935, Hitler ban hành nghị định thiết lập nghĩa vụ quân sự và một quân đội thời bình gồm có 12 quân đoàn và 36 sư đoàn – khoảng nửa triệu người. Các cường quốc chỉ có một số động thái rỗng tuếch để cảnh cáo Hitler.
Ngày 21 tháng 5 năm 1935, Hitler bí mật ban hành Luật Bảo vệ Đế chế, tổ chức lại quân lực; Bộ Quốc phòng đổi thành Bộ Chiến tranh. Quân đội Đức từ danh hiệu Reichswehr (Quân Phòng vệ Đế chế) dưới thời Cộng hòa bây giờ được chuyển thành Wehrmacht (Lực lượng Phòng vệ). Hitler kiêm thêm Tư lệnh Tối cao Quân lực. Mỗi binh chủng hải lục không quân có Tư lệnh và Bộ Tư lệnh riêng.
Hitler đề xuất hải quân mới của Đức ở mức 35% tải trọng lực lượng Hải quân Hoàng gia Anh, và như thế vẫn còn khiến cho Đức 15% thấp hơn tải trọng của Hải quân Pháp. Anh nhanh chóng chấp nhận đề xuất này mà không tham khảo với Pháp, vô hình chung cho phép Đức tự do đóng tàu cho hạm đội càng nhanh càng tốt theo khả năng có thể – ngang bằng khả năng huy động tối đa các xưởng đóng tàu và nhà máy thép trong 10 năm. Vì thế, đây không phải là giới hạn tái vũ trang của Đức mà là khuyến khích bành trướng binh chủng hải quân nhanh chóng theo khả năng của Đức.

Bài Do Thái

Suốt đời, Hitler là người bài Do Thái một cách mù quáng và quá khích. Di chúc của ông – viết ra vài giờ trước khi qua đời – chứa đựng lời công kích cuối cùng đối với người Do Thái, cho là họ có trách nhiệm đối với cuộc chiến mà ông phát động. Lòng căm thù nóng bỏng này, được lan truyền qua nhiều người Đức, cuối cùng dẫn đến cuộc tàn sát kinh khủng trên diện rộng đến nỗi để lại một vết sẹo kinh hoàng trên nền văn minh của nhân loại và chắc chắn sẽ còn tồn tại khi nào mà con người còn sống trên quả đất.
Tinh thần bài Do Thái lan truyền mạnh mẽ trong các cấp chính quyền của Đức, đến nỗi các bị cáo trong Tòa án Nürnberg tin rằng thẩm phán trong các phiên tòa là người Do Thái!

Cuộc thảm sát Do Thái

"Giải pháp cuối cùng" là cụm từ do giới Quốc xã sử dụng (chỉ mới được đưa ra ánh sáng trước Tòa án Nürnberg) để chỉ các cuộc tàn sát người Do Thái tiếp diễn cho đến cuối cuộc chiến. Có nhiều tranh cãi về số người Do Thái bị sát hại. Theo hai binh sĩ SS làm nhân chứng tại Tòa án Nürnberg, Karl Eichmann ước tính con số này là từ 5 triệu đến 6 triệu. Eichmann là Trưởng ban Người Do Thái của tổ chức RSHA, thực hiện "Giải pháp cuối cùng" dưới sự chỉ đạo của Heydrich. Con số đưa ra trong bản cáo trạng của Tòa án Nürnberg là 5,7 triệu, trùng hợp với ước lượng của Hội đoàn Do Thái Thế giới. Riêng Reitlinger cho số thấp hơn, từ 4,2 đến gần 4,6 triệu.
Vào năm 1939, có khoảng 10 triệu người Do Thái sống trên những lãnh thổ bị lực lượng của Hitler chiếm đóng. Dù theo ước lượng nào, điều chắc chắn là phân nửa số người này đã bị Quốc xã sát hại. Đấy là hệ lụy chung cuộc và cái giá ghê gớm của sự lầm lạc mà nhà lãnh đạo Quốc xã truyền tải đến – hoặc chia sẻ với – nhiều người đi theo ông ta.

Tuần lễ Thủy tinh vỡ

Vào mùa thu 1938, có thêm một điểm ngoặt cho Quốc xã, diễn ra trong thời gian mà đảng viên sau này gọi là "Tuần lễ Thủy tinh vỡ".
Ngày 7 tháng 11, một thanh niên người Đức gốc Do Thái 17 tuổi tên Herschel Grynszpan bắn chết Bí thư Thứ Ba của đại sứ quán Đức ở Paris. Cha của anh trai trẻ này nằm trong số cả chục nghìn người Do Thái bị trục xuất sang Ba Lan. Để trả thù cho việc này và cho việc ngược đãi người Do Thái nói chung ở Đức mà anh trai trẻ tìm đến đại sứ quán Đức với ý định hạ sát đại sứ. Nhưng người Bí thư Thứ Ba được phái ra xem anh muốn gì, và bị anh bắn chết.
Đêm 9 rạng sáng 10 tháng 11, một đợt giết chóc tệ hại nhất, cho đến lúc này, xảy ra. Theo Quốc xã, đấy chỉ là do việc dân Đức có phản ứng "tự phát" với tin giết người ở Paris. Nhưng sau Thế chiến thứ hai, tài liệu tịch thu cho thấy Đức đã sắp đặt việc "tự phát".
Nội bộ Quốc xã báo cáo 119 giáo đường của người Do Thái bị đốt, 76 giáo đường khác bị phá hủy, 7.500 cửa hàng Do Thái bị phá phách. Có 20.000 người Do Thái bị bắt, 36 người chết, 36 bị thương nặng – đều là người Do Thái.
Người Do Thái còn phải chi trả cho sự phá hủy tài sản của họ. Nhà nước tich thu tiền bảo hiểm đáng lẽ họ nhận được. Thêm nữa, họ phải chung nhau trả khoản tiền phạt một tỉ Mark Đức vì lý do "tội ác ghê tởm của họ", theo lời Göring.
"Tuần lễ Thủy tinh vỡ" là dấu hiệu báo trước cho sự suy yếu tai hại mà cuối cùng sẽ dẫn nhà độc tài, chế độ của ông và đất nước của ông đến chỗ suy tàn. Chúng ta đã thấy đầy dẫy những biểu hiện của chứng hoang tưởng tự đại của Hitler. Nhưng từ trước đến giờ, Hitler đã cố tự kiềm chế ở những thời điểm khẩn trương trên bước đường đi lên của ông và của đất nước ông. Ở những thời điểm như thế, thiên tài về hành động gan lì và tính toán cẩn thận cho hậu quả đã giúp cho ông đạt hết thắng lợi này đến thắng lợi khác. Nhưng bây giờ, như ngày 9 tháng 11 và những hệ lụy về sau sẽ cho thấy, Hitler đang mất dần khả năng tự kiềm chế. Chứng hoang tưởng tự đại của ông đã trở nên áp chế. Biên bản buổi họp ngày 12 tháng 11 do Göring chủ trì cho thấy chính Hitler có trách nhiệm đối với đêm tàn phá trong tháng 11 ấy; chính ông đã thúc đẩy Göring loại trừ người Do Thái ra khỏi cuộc sống ở Đức. Từ lúc này trở đi, chủ nhân ông tuyệt đối của Đế chế thứ Ba sẽ không còn biết tự kiềm chế – đức tính đã thường cứu nguy cho ông trước đây. Và dù cho thiên tài của ông sẽ dẫn đến những cuộc thôn tính đáng kinh ngạc khác, những hạt mầm độc hại cho việc tự phá hủy chung cục của nhà độc tài và của đất nước ông đã được gieo cấy.

Việc làm đi đôi với lời nói

Cương lĩnh đảng

Trong đại hội quy mô đầu tiên của Đảng Lao động Đức (tiền thân của Quốc xã) ngày 24 tháng 2 năm 1920, lần đầu tiên Hitler nêu lên 25 điểm trong cương lĩnh của Đảng Lao động Đức. Những điểm quan trọng nhất sau này được Hitler mang ra thi hành, với hệ lụy tàn khốc cho hàng triệu người trong và ngoài nước Đức.
Điểm thứ nhất trong bản cương lĩnh đòi hỏi hợp nhất mọi người Đức trong một nước Đức mở rộng. Đây đúng là việc mà Hitler thực hiện sau này khi sáp nhập Áo với 6 triệu người Đức và vùng Sudetenland với 6 triệu người Đức khác. Đấy cũng là đúng theo yêu sách đòi lại vùng Gdańsk và những vùng đất khác ở Ba Lan có nhiều người Đức sinh sống. Và một trong những điều bất hạnh cho thế giới là có quá nhiều người trong giai đoạn giữa hai cuộc thế chiến đã bỏ qua hoặc chế giễu mục đích này của Quốc xã mà Hitler đã cất công ghi trên giấy trắng mực đen. Những quan điểm bài Do Thái đưa ra cương lĩnh đảng cũng là lời cảnh cáo kinh khủng.
Có hai điểm trong cương lĩnh mà Hitler sẽ thi hành ngay khi trở thành thủ tướng. Điểm 2 đòi hỏi xóa bỏ các Hòa ước Versailles và Saint-Germain. Điểm 25 trù định việc "thiết lập một quyền lực trung ương mạnh cho Nhà nước". Điểm này – cũng như Điểm 1 và Điểm 2 đòi hỏi hợp nhất mọi người Đức trong Đế chế và việc xóa bỏ các hòa ước – được chính Hitler kiên quyết đưa vào cương lĩnh. Việc này cho thấy ngay từ lúc ấy, khi mà bên ngoài München chưa có mấy ai biết đến đảng của Hitler, ông đã phóng tầm nhìn đến chân trời xa hơn dù cho có nguy cơ bị mất sự hậu thuẫn ngay trong lãnh địa của mình.
Vào lúc ấy, tư tưởng ly khai nổi lên mạnh mẽ ở Bayern. Người Bayern thường xuyên xung khắc với chính quyền trung ương vì họ yêu sách phân quyền nhiều hơn hầu Bayern có thể được tự trị. Nhưng Hitler đang nhắm đến quyền lực không những ở Bayern mà còn bao trùm cả nước Đức, và nếu muốn duy trì quyền lực như thế cần có chính quyền trung ương mạnh, xóa bỏ những bang bán tự trị trong nền cộng hòa hiện thời và trong Đế chế Đức ngày xưa. Một trong những động thái của Hitler khi lên nắm chính quyền năm 1933 là nhanh chóng thực hiện điểm cuối cùng trong cương lĩnh của đảng mà lúc đầu không có mấy ai để ý đến. Không ai có thể trách Hitler đã không cảnh báo đầy đủ trước – trên giấy trắng mực đen – ngay từ bước khởi đầu.

Quyển sách Mein Kampf

Mùa hè 1924, trong tòa pháo đài Landsberg xưa cũ được dùng làm nhà tù, Adolf Hitler, tù nhân nhưng được đối xử như là khách danh dự với một căn phòng cho riêng mình và cảnh quan tuyệt vời bên ngoài, gọi Rudolf Hess đến (đã ra đầu thú và vào tù) để bắt đầu đọc cho anh này ghi lại từ chương này qua chương kia của một quyển sách có tựa đề là Mein Kampf (Cuộc tranh đấu của tôi).
Xem chi tiết về nội dung của quyển sách: Mein Kampf.
Trong quyển Mein Kampf, Hitler diễn giải tư tưởng của ông và áp dụng đặc biệt vào việc phục hồi nước Đức. Hitler cho rằng Đức cần có không gian sinh sống (Lebensraum) ở miền Đông và phải sẵn sàng sử dụng vũ lực để đạt mục đích này. Chủ yếu là chiếm đất của Nga, phục hồi đường ranh giới của Đế quốc La Mã Thần thánh 600 năm về trước.
Hitler cũng vạch ra việc tạo dựng một quốc gia dựa trên chủng tộc thuần khiết và quy tụ mọi người Đức lúc này còn đang sống bên ngoài biên giới Đức. Trên quốc gia này sẽ thiết lập chế độ độc tài tuyệt đối dưới quyền một lãnh tụ – chính là ông ta – để ban hành mệnh lệnh cho một tầng lớp lãnh đạo nhỏ hơn, rồi những người này sẽ truyền lệnh xuống dưới.
Ấn bản đầu tiên quyển Mein Kampf (1925)
Tư tưởng chủ chốt thứ hai trong quyển Mein Kampf là về chủng tộc, nêu lên tính ưu việt của chủng tộc Aryan, chà đạp lên những chủng tộc khác, những thứ cỏ rác – đấy là Do Thái và Slav. Một lần nữa, phải công nhận rằng việc làm của Hitler đi đôi với lời nói khi ông thi hành chính sách diệt chủng ở Đông Âu trong chiến tranh. Sau này, Hitler thực hiện đúng như những gì ông đã vạch ra trong quyển Mein Kampf. Trong tác phẩm này, ông cũng ca ngợi tinh thần kỷ luật của Vương quốc Phổ xưa. [7]
Sau khi ra khỏi nhà tù, ngày 27 tháng 2 năm 1925, Hitler mở đại hội đầu tiên của Đảng Quốc xã kể từ vụ Đảo chính Nhà hàng Bia với hai mục đích trong đầu mà từ nay về sau ông nhất định sẽ theo đuổi. Thứ nhất là tập trung mọi quyền lực vào tay ông. Thứ hai là tạo dựng lại Đảng Quốc xã thành một tổ chức chính trị hầu nắm chính quyền thông qua con đường hợp hiến mà thôi.

Tài hùng biện, tổ chức và tuyên truyền

Trong những ngày sống lang thang ở thành Viên, Hitler để ý đến tầm quan trọng của tài hùng biện trong chính trị, và ông viết:
“ Uy lực trong lịch sử tạo ra những cơn lốc về tôn giáo và chính trị từ ngàn xưa đều là uy lực thần kỳ của lời nói, và chỉ do lời nói mà thôi.... Chỉ có thể khích động quần chúng bằng uy lực của lời nói. Mọi phong trào vĩ đại đều là phong trào quần chúng, là sự bùng nổ của nỗi mê đắm và xúc cảm của con người...
”
—Hitler
Dù không tham gia vào hoạt động chính trị của Áo, Hitler đã bắt đầu tập luyện tài hùng biện đối với những cử tọa anh tìm được ở khu nhà trọ, bếp ăn từ thiện, góc đường phố. Dần dà, việc này phát triển thành một kỹ năng đáng sợ hơn là bất kỳ kỹ năng nào giữa hai trận thế chiến, và đóng góp phần lớn vào thành công đáng kinh ngạc của Hitler.

Tái cơ cấu đảng

Khởi đầu, không có triển vọng gì về sự nghiệp chính trị cho một người Áo 31 tuổi không bạn bè, không tiền bạc, không công ăn việc làm, không nghề chuyên môn, và không hề có kinh nghiệm gì về hoạt động chính trị. Hitler nhận thức được điều này.
Hitler trở lại München vào mùa xuân 1919, rồi được điều vào Ban Báo chí và Thông tin của Phòng Chiến tranh Chính trị đóng tại quân khu địa phương. Quân đội Đức bây giờ nhúng sâu vào chính trị, đặc biệt là ở Bayern. Để quảng bá đường lối bảo thủ, họ tổ chức cho binh sĩ theo học các lớp chính trị, và Hitler là học viên chăm chỉ tham dự một trong các lớp học này. Một ngày tháng 9 năm 1919, Phòng Chiến tranh Chính trị ra lệnh cho Hitler dò xét một nhóm chính trị nhỏ tự gọi là Đảng Lao động Đức lúc ấy có không đến 100 đảng viên. Kết quả của việc này là Hitler chấp nhận trở thành Ủy viên Trung ương thứ bảy của Đảng Lao động Đức.
Xem chi tiết về tiến trình thành lập và phát triển của đảng: Đảng Công nhân Đức Quốc gia Xã hội chủ nghĩa.
Ngay từ đầu, Hitler đã thể hiện một cách đáng kinh ngạc tài năng hùng biện, tổ chức và tuyên truyền. Đầu năm 1920, Hitler nắm nhiệm vụ tuyên truyền cho đảng, tổ chức một đại hội lớn lao nhất mà đảng tí hon này chưa từng mơ đến. Đại hội được dự trù vào ngày 24 tháng 2 năm 1920 trong một nhà hàng bia nổi tiếng ở München có sức chứa 2.000 người. Tài hùng biện của Hitler cũng giúp đảng thu thêm được đóng góp tài chính.

Thiết kế huy hiệu và cờ của Đảng Quốc xã

Cũng vào mùa hè 1920, nhà họa sĩ thất bại Hitler nhưng bây giờ trở thành bậc thầy về nghệ thuật tuyên truyền, phát sinh ý tưởng mà chỉ có thể được xem là một cú đột phá của thiên tài. Ông thấy cái mà đảng đang thiếu là một huy hiệu, một lá cờ, một biểu tượng nhằm thể hiện những gì mà đảng muốn phát huy và nhằm kích thích óc tưởng tượng của quần chúng – những người sẽ tiến bước và chiến đấu dưới ngọn cờ của đảng. Sau khi đã tập trung suy nghĩ và xem xét vô số mẫu thiết kế, Hitler tạo nên một lá cờ nền mầu đỏ, ở giữa có một đĩa tròn mầu trắng trong đó in hình chữ vạn nằm nghiêng 45 độ màu đen. Chẳng bao lâu, lực lượng SA và đảng viên Quốc xã mang băng tay có hình chữ thập ngược, và hai năm sau Hitler thiết kế lá cờ nghi thức để mang đi trong những cuộc diễu hành và để giăng lên sau khán đài của những buổi mít-tinh. Những tác phẩm này không hẳn là "mỹ thuật", nhưng là nghệ thuật tuyên truyền ở đẳng cấp cao. Đảng Quốc xã bây giờ có một biểu tượng mà không đảng phái nào khác sánh bằng. Hình chữ thập ngược dường như tự nó toát ra một sức mạnh huyền bí, để lôi kéo quần chúng hành động theo một đường hướng mới, và họ bắt đầu tụ hội dưới lá cờ của Quốc xã.
Trong phiên tòa xử tội phản quốc vì đã chủ mưu biến cố mà các sử gia gọi là Đảo chính Nhà hàng Bia ( hay còn gọi là Vụ phiến loạn tiệm bia ), Hitler tạo ấn tượng mạnh trong lòng người dân Đức bằng tài hùng biện và tinh thần quốc gia sôi sục, và đưa tên tuổi ông lên trang nhất nhiều tờ báo trên thế giới. Hitler chỉ bị án 5 năm tù. Tuy thất bại, vụ bạo loạn khiến cho Hitler nổi danh cả nước, và trong con mắt nhiều người ông là nhà yêu nước và người anh hùng. Bộ máy tuyên truyền của Đảng Quốc xã biến vụ việc thành một trong những huyền thoại vĩ đại nhất.
Hitler đang diễn thuyết trên Cờ Chữ Thập Ngoặc (1934)
Sau khi ra khỏi tù, cố dằn lòng vì bị cấm phát biểu trước công chúng, Hitler hùng hục lao vào công việc tái lập Đảng Quốc xã và biến nó thành một tổ chức mà Đức chưa hề thấy từ trước đến giờ. Ông có ý đồ tổ chức đảng như là một quân đội – một nhà nước trong một nhà nước. Công tác đầu tiên là thu hút đảng viên nộp phí gia nhập. Vào cuối năm 1925, chỉ có 27.000 đảng viên. Đảng này phát triển một cách chậm chạp, nhưng mỗi năm đều có tiến bộ: 49.000 đảng viên năm 1926; 72.000 năm 1927; 108.000 năm 1928; 178.000 năm 1929. Hitler thành lập cơ sở đảng hoàn chỉnh tương ứng với tổ chức hành chính của Đức và cũng giống với xã hội Đức. Nước Đức được chia ra thành vùng (gaue), tương đương với 34 đơn vị trong các kỳ bầu cử Nghị viện, và Hitler đích thân bổ nhiệm đảng viên làm gauleiter (tương đương với xứ ủy) đứng đầu mỗi vùng. Mỗi vùng được chia ra thành những cấp nhỏ hơn. Riêng thành phố được chia nhỏ thêm thành cấp khu phố và cấp tổ dân phố.
Trong kỳ tổng tuyển cử ngày 5 tháng 3 năm 1933, Quốc xã mở chiến dịch tuyên truyền vận động theo tầm mức nước Đức chưa từng thấy bao giờ. Lần đầu tiên, đài truyền thanh của Nhà nước phát đi giọng nói của Hitler, Hermann Göring và Joseph Göbbels đến mọi miền của đất nước. Đường phố giăng đầy cờ mang chữ thập ngoặc, vang vọng tiếng bước của binh sĩ SA. Những cuộc mít-tinh, diễu hành đốt đuốc buổi tối và âm thanh lan khắp các quảng trường. Những tấm pa-nô đầy dẫy hình ảnh tuyên truyền rực rỡ của Quốc xã, và trong đêm tối ánh lửa trại soi sáng những triền đồi. Cử tri bị phỉnh phờ với những lời hứa về thiên đường Đức, bị đội quân áo nâu trên đường phố dọa dẫm khủng bố và kinh hãi vì những "phát hiện" về cuộc "cách mạng" của phe Cộng sản.
Đây là kỳ tổng tuyển cử dân chủ thực sự theo chiến lược của Hitler: nắm chính quyền bằng đường lối hợp pháp. Vì thế, đa số cử tri vẫn có thể bỏ phiếu chống lại Hitler. Đảng Quốc xã dẫn đầu, nhưng chỉ thu được 44% số phiếu.

Chiến thuật khủng bố tâm linh và thể chất

Học hỏi từ quan sát ở Viên

Ở thành Viên, Hitler đã chú ý đến cách "khủng bố tâm linh và thể chất" của Đảng Dân chủ Xã hội Áo, dựa trên quan sát sai lạc và bị thiên kiến của ông làm chệch hướng. Ông viết:
“ Tôi đã hiểu ra sự khủng bố tâm linh mà phong trào này đã thực hiện, đặc biệt đối với giới tư sản;... họ tung ra hàng loạt lời dối trá và vu khống để chống lại bất kỳ đối thủ nào bị xem là nguy hiểm, cho đến lúc tinh thần của đối thủ bị dập tắt... Đây là chiến thuật dựa trên sự tính toán chính xác về những điểm yếu của con người, và chắc chắn đạt thành công...
Tôi hiểu ra tầm quan trọng của sự khủng bố thể chất đối với cá nhân và quần chúng... Chiến thắng đạt được trong hàng ngũ những người ủng hộ dường như là do công lý, còn đối thủ bị đánh bại thường không thiết gì đến việc đối kháng thêm.
”
—Hitler

Lực lượng SA và SS

Chỉ trong mười năm, ông đã sử dụng bài học khủng bố để đạt mục đích của mình. Khi tổ chức Đảng Quốc xã, ông áp dụng phương cách này: tổ chức cựu chiến binh thành một lực lượng sắt máu, ngụy trang dưới tên "Ban Thể dục Thể thao". Khởi đầu, đám cựu chiến binh được điều động trong các buổi đại hội để trấn áp người la ó phản đối, và nếu cần, đẩy họ ra khỏi phòng họp. Ngày 5 tháng 10 năm 1921, lực lượng bán quân sự được chính thức đặt tên Sturmabteilung, gọi tắt là SA, còn được gọi là "Quân áo nâu". Dần dà SA được kiện toàn thành một lực lượng vũ trang gồm vài trăm nghìn người để bảo vệ buổi họp của Quốc xã, giải tán buổi họp của đối thủ và nói chung khủng bố người chống lại Hitler.
Một lần, vào năm 1921 đích thân Hitler dẫn lực lượng SA tấn công một đại hội của nhóm đối lập và đánh đập một người mang tên Ballerstedt sẽ đọc diễn văn trong đại hội. Vì việc này, Hitler bị án 3 tháng tù, nhưng được trả tự do sau khi ngồi tù 1 tháng. Ông trở nên gần như là một vị thánh tử vì đạo và giành thêm hậu thuẫn. Hitler khoe khoang với cảnh sát: "Không sao cả. Chúng tôi đã đạt được mục đích. Ballerstedt không phát biểu được." Đúng như Hitler đã tuyên bố vài tháng trước:
Trong tương lai Phong trào Quốc xã sẽ ngăn chặn một cách không khoan nhượng – bằng vũ lực nếu cần – mọi đại hội hoặc buổi diễn thuyết có thể khiến cho đồng bào của chúng ta phân tâm.
Để được sự hỗ trợ đáng tin cậy hơn, Hitler thành lập lực lượng SS (Schutzstaffel). Cuối cùng, lực lượng SS ngự trị nước Đức và là một cái tên gây kinh hoàng cho mọi vùng bị Đức chiếm đóng ở Châu Âu.
Xem chi tiết về những tổ chức và nhân vật gây khủng bố của Quốc xã:
Trong kỳ tổng tuyển cử ngày 5 tháng 3 năm 1933, Hitler muốn Nghị viện thông qua việc thiết lập chế độ độc tài. Để đạt được việc này, Hitler cần có hai phần ba số phiếu Nghị viện. Quốc xã bắt giam 81 đại biểu đảng Cộng sản trong Nghị viện khiến cho họ "vắng mặt" trong kỳ họp Nghị viện.

Thôn tính Áo bằng khủng bố tinh thần

Suốt năm 1937, với sự tài trợ và thúc giục của Đức, Quốc xã Áo gia tăng chiến dịch khủng bổ. Bom nổ hầu như mỗi ngày đây đó trên đất Áo; ở những tỉnh miền núi những cuộc biểu tình diễn ra rầm rộ và thường gây bạo lực khiến cho chính phủ suy yếu dần.
Hitler phái Papen dàn xếp cuộc hội đàm giữa thủ tướng Áo Kurt Schuschnigg và Hitler ngày 12 tháng 2 năm 1938. Hitler áp dụng chiến thuật khủng bố tinh thần: dùng ngôn ngữ thù địch để phủ đầu. Hitler nói với Schuschnigg:
Han
đã tìm mọi cách để né tránh một chính sách thân thiện... Cả lịch sử của Áo chỉ là những hành vi phản bội không ngừng.... Đã đến lúc phải chấm dứt điều nghịch lý lịch sử này... Đế chế Đức là một trong những cường quốc vĩ đại nhất, và không ai sẽ lên tiếng nếu Đế chế này giải quyết vấn đề biên giới của họ.
... Tôi muốn cho ông biết là vụ việc không thể tiếp tục như thế này.... ai chống tôi sẽ bị nghiền nát... tôi sẽ giải quyết cái gọi là vấn đề Áo bằng cách này hoặc cách khác... Tôi chỉ cần ra lệnh, và chỉ trong một đêm duy nhất mọi cơ cấu phòng thủ nực cười của ông sẽ bị bắn tan tác.
Bị sốc vì cơn giận dữ của Hitler, vị Thủ tướng Áo vốn có tư thái trầm tĩnh cố giữ sự hòa dịu nhưng vẫn bảo vệ quan điểm của mình.
Cuối buổi sáng, khi Schuschnigg hỏi chính xác những điều kiện của Thủ tướng Đức là gì, thì Hitler đáp: "Chúng ta sẽ thảo luận chiều nay."
Buổi xế chiều, sau khi bị bắt phải chờ đợi trong hai giờ, Thủ tướng Áo nhận từ tay Ngoại trưởng Đức Joachim von Ribbentrop bản thảo của một "hiệp định" được chi biết rằng đấy là đòi hỏi cuối cùng của Hitler và rằng Hitler không cho phép thảo luận gì về bản văn này. Bây giờ cần phải ký kết.
Tối hậu thư này đòi trong vòng một tuần Schuschnigg phải chuyển giao chính phủ Áo cho Đảng Quốc xã Áo, chỉ định người thân Quốc xã TS. Arthur Seyss-Inquart làm Bộ trưởng Nội vụ. Tất cả có nghĩa là Áo sẽ mất quyền tự chủ. Đức cũng bảo Seyss-Inquart gửi điện tín cho Hitler, yêu cầu gửi quân Đức đến Áo để lập lại an ninh trật tự. Hãng thông tấn chính thức D.N.B. của Đức nói Seyss-Inquart đã gửi cho Hitler bức điện tín này. Trong bản cung khai tại Tòa án Nürnberg, Seyss-Inquart cho biết ông đã từ chối gửi điện tín như thế vì an ninh trật tự vẫn tốt. Hitler đã viện dẫn bức điện tín trong trò lừa đảo để biện minh với dân Đức và với người nước ngoài cho cuộc tấn công. Thật ra, có hai bản văn của bức "điện tín", đúng như Göring đã đọc qua điện thoại, được tìm thấy trong thư khố của Bộ Ngoại giao sau chiến tranh. Sau này, Papen giải thích là Bộ trưởng Bưu điện và Điện tín đã ngụy tạo các bức điện tín và đưa vào hồ sơ lưu trữ của chính phủ.
Schuschnigg thông báo sẽ tổ chức trưng cầu dân ý ngày 13 tháng 3 năm 1938 để hỏi dân Áo có muốn "một nước Áo tự do, độc lập, xã hội, Cơ đốc và thống nhất" hay không. Hitler nổi cơn giận dữ khi nghe tin bất ngờ này, và quyết định chiếm đóng Áo bằng quân sự. Đức ra lệnh Schuschnigg phải từ chức, và Áo phải bổ nhiệm Seyss-Inquart làm thủ tướng. Tổng thống Wilhelm Miklas của Áo miễn cưỡng chấp nhận đơn xin từ chức của Schuschnigg nhưng từ chối bổ nhiệm Seyss-Inquart lên thay thế.
Hitler ra lệnh phát động cuộc tiến công Áo ngày 12 tháng 3 năm 1938, rồi lên đường trở về quốc gia sinh quán của ông, được đón tiếp một cách tưng bừng. Hitler làm Tổng thống Áo, và Áo trở thành một tỉnh của Đế chế Đức. Một luật mới quy định "trưng cầu dân ý tự do và kín" ngày 10 tháng 4 để người Áo có thể quyết định "vấn đề thống nhất với Đế chế Đức", còn người Đức cũng tham gia trưng cầu dân ý về việc thống nhất cùng với việc bầu Nghị viện mới. Dưới chiến dịch tuyên truyền và khủng bố, 99,08% ở Đức và 99,95% ở Áo bỏ phiếu thuận cho Áo sáp nhập vào Đức, trở thành một tỉnh của Đức như các tỉnh khác.

Vận dụng thời cơ

Hủy bỏ Hòa ước Versailles

Xem chi tiết về nội dung của hòa ước: Hòa ước Versailles.
Vì việc Đồng Minh áp đặt Hòa ước Versailles lên nước Đức, Đức trở thành một quốc gia bị chia rẽ. Phe bảo thủ không chấp nhận cả hòa ước lẫn nền hòa bình lẫn chế độ cộng hòa đã phê chuẩn hòa ước. Về lâu về dài, quân đội cũng thế. Adolf Hitler đã nhận ra thực lực của làn sóng quốc gia chống dân chủ, chống nền cộng hòa còn non trẻ. Ông bắt đầu nương theo làn sóng ấy mà tiến lên. Những diễn biến thời cuộc giúp Hitler thêm lợi thế, nhất là việc đồng Mark mất giá và việc Pháp chiếm đóng vùng sông Rhur. Chính giai đoạn này là cơ hội trời cho đối với Hitler.
Cơn suy thoái kinh tế lan khắp thế giới vào cuối năm 1929 tạo cho Adolf Hitler một cơ hội, và ông khai thác tận lực. Trong chiến dịch vận động cuồng loạn cho cuộc tổng tuyển cử ngày 14 tháng 9 năm 1930, Hitler hứa hẹn với hàng triệu người đang bất mãn rằng ông sẽ làm cho nước Đức hùng mạnh trở lại, từ chối việc trả bồi thường chiến tranh, chối bỏ Hòa ước Versailles, quét sạch tham nhũng, triệt hạ những trùm tài phiệt (đặc biệt nếu họ là người Do Thái), và đảm bảo mỗi người Đức đều có việc làm và bánh mỳ. Đối với những người đang đói kém mong cho cuộc sống bớt khổ và cũng đang tìm kiếm niềm tin mới, lời hứa như thế nghe thật hấp dẫn. Đảng Quốc xã chiếm 107 ghế, từ vị trí thứ chín và là đảng nhỏ nhất trong Nghị viện nhảy lên thành đảng lớn thứ nhì. Từ đầu năm 1930, chiến dịch tuyên truyền của Quốc xã đã có hiệu lực đối với Quân đội Đức, đặc biệt là trong số sĩ quan trẻ. Họ cảm thấy thu hút vì tinh thần quốc gia cực đoan của Hitler, và cũng vì viễn tượng mà ông vẽ ra: tái lập Quân đội trở lại thời vinh quang và hùng mạnh. Lúc ấy, sĩ quan sẽ có nhiều cơ hội để thăng tiến, không phải bị gò bó trong lực lượng nhỏ bé như bây giờ.
Ngày 30 tháng 1 năm 1937, Hitler đọc diễn văn trước Nghị viện, tuyên bố "rút chữ ký của Đức" ra khỏi Hòa ước Versailles.

Nước cờ mạo hiểm ở Rheinland

Sáng 7 tháng 3 năm 1936, một lực lượng nhỏ của Đức đi qua các cầu sông Rhein và tiến vào khu phi quân sự Rheinland. Lực lượng Pháp đang hiện diện trong vùng có thể bắn quân Đức tan tành và hầu như chắc chắn sẽ đặt dấu chấm hết cho Hitler. Nhưng Hitler dám đánh nước cờ mạo hiểm là do Pháp lưỡng lự và Anh mềm yếu. Nước cờ này mang đến cho Hitler một thắng lợi to tát hơn và có tính quyết định hơn là những gì ta hiểu lúc đầu. Trong nước, Hitler củng cố vị thế và quyền lực, đưa ông lên tầm cao chưa có nhà lãnh đạo Đức nào trong quá khứ đạt được. Ngày 7 tháng 3 năm 1936, Hitler giải tán Nghị viện, tổ chức "bầu cử" mới và trưng cầu dân ý về việc Đức chiếm Rheinland. Theo số liệu chính thức, 99% cử tri đi bỏ phiếu trưng cầu dân ý, và 98,8% chấp thuận hành động của Hitler. Ngay cả với yếu tố khủng bố của mật vụ, vẫn còn có tỷ lệ áp đảo người Đức ủng hộ Hitler.
Thắng lợi cũng đảm bảo Hitler vượt lên trên tướng lĩnh, những người đã lưỡng lự và nhụt chí vào thời điểm khủng hoảng trong khi ông vẫn kiên quyết. Thắng lợi cũng cho Hitler thấy rằng trong chính sách ngoại giao và ngay cả trong sự vụ quân bị, Hitler có óc phán đoán cao hơn tướng lĩnh. Họ đã sợ Pháp sẽ chống trả; Hitler thì biết rõ hơn. Tuy chỉ là một chiến dịch quân sự nhỏ nhoi, việc chiếm đóng Rheiland là một bước ngoặt quan trọng. Vị thế chiến lược của mỗi bên đã thay đổi hẳn sau khi ba tiểu đoàn của Đức đi qua các cầu sông Rhein mà các sư đoàn của Pháp không có động thái gì.

Tính chuyên chế, độc tài

Chiếm quyền độc tài trong đảng

Vào mùa hè 1921, lần đầu tiên Hitler đã cho các đồng chí của mình nếm trải bản tính tàn độc và óc tinh ranh về chiến thuật. Trong khi Hitler đi Berlin để tiếp xúc với vài phe nhóm theo chủ nghĩa quốc gia hầu mở rộng phong trào Quốc xã, những ủy viên trung ương khác của Đảng Quốc xã thấy có cơ hội để thách thức quyền lãnh đạo của ông. Hitler đã trở nên quá độc đoán với họ. Thế là họ trù định sáp nhập với những phe nhóm có chủ kiến tương tự, nghĩ rằng khi ấy ảnh hưởng của Hitler sẽ suy yếu.
Nhận ra vị thế của mình bị đe dọa, Hitler vội vã trở về München để dập tắt những người mà ông gọi là "mất trí điên rồ". Ông xin rút ra khỏi đảng. Những ủy viên trung ương khác thấy ngay là đảng không thể mất ông. Hitler không chỉ là nhà hùng biện tài giỏi nhất, mà còn là nhà tổ chức và tuyên truyền hữu hiệu nhất. Hơn nữa, chính Hitler là người mang về phần lớn ngân khoản đóng góp cho đảng. Nếu ông ra đi, chắc chắn Đảng Quốc xã sẽ tan rã. Trung ương đảng khước từ ý nguyện của Hitler. Sau khi đã nhận thức rõ vị thế của mình, bây giờ Hitler bắt buộc các nhà lãnh đạo khác của đảng phải nhượng bộ. Kết quả là Hitler xóa bỏ Trung ương Đảng, nắm quyền lãnh đạo độc tôn của đảng, nhà sáng lập đảng Drexler được đẩy lên làm chủ tịch danh dự, và chẳng bao lâu bị cho ra rìa. Tháng 7 năm 1921, "nguyên tắc lãnh đạo" được thiết lập, trở thành điều luật trước nhất cho Đảng Quốc xã và sau đấy cho Đế chế Thứ Ba. "Lãnh tụ" đã xuất hiện trên chính trường nước Đức. Vị "lãnh tụ" bây giờ bắt đầu lo tái tổ chức đảng, tiếp tục nhận thêm đóng góp tài chính.

Thiết lập thể chế độc tài

Nghị viện và chính quyền của bang bị giải tán ngay trong năm đầu Quốc xã nắm quyền lực. Bang được chuyển thành tỉnh, và tỉnh trưởng được Hitler bổ nhiệm. Thành phố cũng mất quyền tự quản, được đặt dưới Bộ Nội vụ. Bộ trưởng Nội vụ bổ nhiệm thị trưởng của thành phố có trên 100.000 dân, và tỉnh trưởng bổ nhiệm thị trưởng của thành phố từ 100.000 dân trở xuống. Riêng Hitler giữ quyền bổ nhiệm thị trưởng Berlin, Hamburg và Viên (sau năm 1938, khi nước Áo được sáp nhập).
Ngày 14 tháng 7 năm 1933, một luật mới quy định Đảng Lao động Quốc gia Xã hội Chủ nghĩa Đức là đảng chính trị duy nhất ở Đức. Các nghiệp đoàn bị dẹp bỏ.
Ngày 30 tháng 1 năm 1934, kỷ niệm tròn năm Hitler nhậm chức Thủ tướng, Hitler chính thức hoàn tất công việc qua Luật Tái lập Đế chế. Tất cả thể chế dân cử bị xóa bỏ, quyền điều hành bang được chuyển về trung ương, mọi cơ cấu chính quyền bang được tập trung dưới chính phủ Đế chế, thống đốc bang được đặt dưới hệ thống hành chính của Bộ Nội vụ Đế chế.

Đêm của những con dao dài

Từ những ngày đầu tiên trong phong trào Quốc xã, Hitler đã xác định đội quân áo nâu SA là lực lượng chính trị, không phải thuộc diện quân sự. Nhiệm vụ của họ là gây bạo động, gây khủng bố, theo đấy đảng sẽ xông lên mà chiếm quyền lực. Đối với Tham mưu trưởng Ernst Röhm của lực lượng SA, hiện đã lên đến nửa triệu người, lực lượng này vừa là xương sống của cuộc cách mạng Quốc xã và cũng là hạt nhân cho quân đội cách mạng tương lai. Ý tưởng của Hitler thì khác hẳn. Ông nhận thức rõ ràng rằng chỉ nắm được quyền lực nếu có sự ủng hộ của tướng lĩnh và rằng, ít nhất lúc này, ông vẫn còn lệ thuộc vào quân đội, vì họ vẫn còn đủ sức lật đổ ông nếu họ muốn. Hitler cũng tiên liệu rằng ông sẽ cần đến lòng trung thành của quân đội một khi Paul von Hindenburg qua đời. Hơn nữa, Hitler biết chắc rằng chỉ có cấp tướng lĩnh và sĩ quan, với mọi truyền thống và năng lực quân bị, mới có thể hoàn tất trong một thời gian ngắn mục tiêu xây dựng một lực lượng chiến đấu hùng mạnh và có kỷ luật. Quân SA chỉ là đám ô hợp – chỉ làm tốt trong việc đấm đá ngoài đường phố nhưng không thể là quân đội hiện đại. Họ đã làm tròn nhiệm vụ, và bây giờ phải tìm cách đẩy họ ra khỏi con đường sự nghiệp của Hitler.
Khó mà dung hòa hai quan điểm của Hitler và Röhm. Kết quả là cuộc thanh trừng đẫm máu trong đêm 30 tháng 6 năm 1934 mà các sử gia gọi là "Đêm của những con dao dài". Tham mưu trưởng Röhm của lực lượng SA cùng với một số thủ lĩnh SA đi ngược lại quan điểm của Hitler bị sát hại một cách dã man. Thêm một số người bị sát hại do Hitler tính sổ với những ân oán cũ.
Sau vụ này, Hitler tuyên bố:
Trong tương lai, mọi người nên biết rằng nếu họ ra tay chống lại Nhà nước, chắc chắn họ sẽ bị bắn chết
Đấy là lời cảnh cáo sẽ được áp dụng cho các tướng lĩnh gần chẵn 10 năm sau.

Hitler thanh trừng các nhân vật chống đối

Ngày 5 tháng 11 năm 1937, Hitler thông báo cho giới chỉ huy quân đội và ngoại giao cao cấp ý định tiến hành chiến tranh, sáp nhập Áo và Tiệp Khắc vào Đức. Các tư lệnh quân đội và ngoại trưởng tin chắc việc này sẽ dẫn đến chiến tranh toàn Châu Âu. Họ đều cảm thấy choáng váng. Đấy không phải là do yếu tố đạo lý mà vì lý do thực tế hơn: nước Đức vẫn chưa sẵn sàng cho một cuộc chiến lớn; nếu khiêu khích chiến tranh bây giờ sẽ có nguy cơ gặp thảm họa. Dựa trên những lý do ấy, Werner von Blomberg, Freiherr Wernner von Fritsch và Konstantin von Neurath dám lên tiếng cật vấn lý lẽ của Lãnh tụ. Trong vòng 3 tháng, cả ba người đều mất chức.
Do những mưu đồ của các thuộc hạ dưới quyền, lần lượt Thống chế, Tổng Tham mưu trưởng Quân lực von Blomberg và Đại tướng cấp cao Tư lệnh Lục quân von Fritsch đều bị mất chức do bị Heinrich Himmler dàn cảnh, kết tội đồng tính luyến ái.
Xem chi tiết: Gestapo, Heinrich Himmler và Hermann Göring.
Hitler tuyên bố đích thân ông chỉ huy toàn quân lực. Vì là nguyên thủ quốc gia, dĩ nhiên Hitler là Tư lệnh Tối cao Quân lực, nhưng bây giờ ông nắm luôn chức Tổng Tham mưu trưởng Quân lực và bãi bỏ Bộ Chiến tranh. Bộ Tổng Tham mưu Quân lực bây giờ có tên mới: Oberkommando der Wehrmacht – gọi tắt là OKW, chỉ huy ba binh chủng Lục quân, Không quân và Hải quân. Hitler là Tư lệnh Tối cao của OKW.
Ngày 4 tháng 2 năm 1938 là điểm ngoặt quan trọng trong lịch sử của Đế chế thứ Ba, là cột mốc trên đường tiến đến chiến tranh. Vào ngày này, những người bảo thủ cuối cùng ngáng trở Hitler trên con đường ông nhất quyết theo đuổi đã bị gạt qua một bên. Trong suốt 5 năm cho đến ngày 4 tháng 2 năm 1938 này, quân đội có đủ sức mạnh để lật đổ Hitler và Đế chế thứ Ba, nhưng họ đã không làm gì cả.

Đế chế Thứ Ba thành hình

Trong giai đoạn 1933-37, Quốc xã ra sức củng cố cho Đế chế Thứ Ba của họ. Từng bước, Hitler giải phóng Đức khỏi xiềng xích của Hòa ước Versailles, làm rối loạn phe Đồng Minh chiến thắng, và làm cho Đức hùng mạnh về quân sự trở lại. Cùng lúc, các luật chủng tộc được ban hành nhằm gạt người Do Thái ra khỏi cộng đồng Đức, báo chí và truyền thanh bị kiểm duyệt, các giáo hội Cơ đốc bị ngược đãi, nền văn hóa bị Quốc xã hóa, Quốc xã bắt đầu chiến dịch đốt những sách của các tác giả bị cho là có tư tưởng không phù hợp, hoặc chỉ vì tác giả là người Do Thái. Ngành truyền thanh và phim ảnh cũng nhanh chóng bị uốn nắn để phục vụ cho mục đích truyên truyền của Nhà nước Quốc xã. Trường học Đức, từ cấp một đến đại học, đều được Quốc xã hóa. Ai không nhận ra tư tưởng mới bị loại ra ngoài.
Trẻ em từ 6 đến 10 tuổi gia nhập nhóm nhi đồng. Họ được phát một quyển sổ để ghi thành tích, kể cả sự tiến bộ về ý thức hệ. Lúc lên 10 tuổi, trẻ phải trải qua những cuộc thi thể dục, cắm trại và lịch sử Quốc xã, trước khi được nhận vào nhóm thiếu niên và cất lời tuyên thệ trung thành với Adolf Hitler. Khi lên 14 tuổi, trẻ được nhận vào Đoàn Thanh niên Hitler thực thụ cho đến năm 18 tuổi, rồi được gọi làm nghĩa vụ lao động hoặc quân sự. Đến cuối năm 1938, Đoàn Thanh niên Hitler có gần 8 triệu đoàn viên trong tổng số 12 triệu ở độ tuổi này. Chương trình cải tổ giáo dục của Đế chế Thứ Ba lên đến đỉnh điểm với sự thành lập ba loại trường để đào tạo giới ưu tú: Trường Adolf Hitler, Học viện Giáo dục Chính trị Quốc gia và Thành trì Phẩm cấp. Theo cách ấy, giới trẻ của Đế chế Thứ Ba được huấn luyện để chuẩn bị cho cuộc đời, cho công việc và cho cái chết.
Dù nền Cộng hòa Weimar bị sụp đổ, Hiến pháp Weimar không bao giờ bị Hitler bãi bỏ. Thật ra, điều mỉa mai là Hitler sử dụng Hiến pháp Cộng hòa làm cơ sở pháp lý cho chế độ của ông. Vì thế, hàng nghìn luật được ban hành chiếu theo nghị định của Tổng thống "Cho việc Bảo vệ Nhân dân và Nhà nước" ngày 28 tháng 2 năm 1933.

Đàn áp những người chống đối

Có nhiều âm mưu chống đối Hitler với mục đích chính ban đầu là lật đổ ông nhằm ngăn ông gây chiến tranh mà họ nghĩ sẽ đem đến chiến bại cho nước Đức. Kế tiếp, khi chiến tranh đã bùng phát, những người chống đối muốn ngăn chặn việc Đức bị thất trận nhục nhã, cần vớt vát ít nhiều bằng cách ám sát Hitler và đàm phán với Đồng Minh. Riêng năm 1943, có ít nhất hàng chục kế hoạch ám sát Hitler.
Tất cả âm mưu đều thất bại. Giới dân sự không thể lôi kéo Quân đội Đức vào âm mưu của họ. Như Thống chế von Blomberg khai trước Tòa án Nürnberg:
Trước 1938-39, các tướng lĩnh Đức không chống lại Hitler. Không có lý do gì chống lại ông, vì ông tạo ra thành quả mà họ mong ước.
Nổi bật hơn cả trong các âm mưu chống Lãnh tụ là sự kiện ngày 20 tháng 7 năm 1944, khi Đại tá Bá tước Claus von Stauffenberg mưu sát Hitler. Viên Sĩ quan này là con cháu của nhiều vị danh tướng trong lịch sử dân tộc Đức.[17] Sau vụ Claus von Stauffenberg ám sát hụt Hitler, trong cơn giận dữ tột cùng và lòng thèm khát trả thù không gì kiềm chế được, Hitler quát tháo:
Lần này, sẽ cho can phạm xưng tội ngắn gọn. Không có tòa án quân sự. Họ sẽ đứng trước Tòa án Nhân dân. Không cho phép họ phát biểu. Tòa án sẽ xét xử chớp nhoáng. Án tử hình được thi hành hai tiếng đồng hồ sau. Bằng cách treo cổ – không có sự khoan hồng.
Những người bị cáo buộc trong giới quân sự không ra tòa án binh, mà bị tước quân tịch để đứng trước Tòa án Nhân dân, vốn là loại hình tòa án bù nhìn, nhận lệnh trực tiếp từ Hitler. Tử tội bị đưa vào một gian phòng nhỏ đã có sẵn tám cái móc treo thịt. Từng người bị lột trần cho đến eo, một thòng lọng bằng sợi dây dương cầm được tròng vào cổ họ và phía trên buộc vào cái móc treo thịt. Một máy quay phim thu hình toàn bộ diễn tiến trong khi tử tội đong đưa và ngạt thở, chiếc quần không có dây lưng cuối cùng tụt xuống, khiến cho họ trần truồng trong khi chết một cách đau đớn. Theo chỉ thị, trong đêm ấy cuốn phim được tráng rồi được chuyển đến cho Hitler xem cùng với những ảnh chụp trong phiên tòa.
Nhân vật có can dự nổi tiếng nhất là Thống chế Erwin Rommel, thì bị Hitler bức tử để đổi lại gia đình ông không bị trừng phạt và lễ tang của ông được cử hành theo cấp nhà nước.
Xem chi tiết: Erwin Rommel.

Những trò lọc lừa

Sau vụ ám sát hụt Hitler ngày 20 tháng 7 năm 1944, Tướng Tư lệnh Heinz Guderian nói về Hitler như sau: "Trong trường hợp của ông, tính cứng cỏi đã trở thành bạo tàn, trong khi xu hướng tháu cáy trở thành hoàn toàn bất lương. Ông thường nói dối mà không hề ngập ngừng và nghĩ rằng người khác cũng dối trá với ông."

Vụ hỏa hoạn ở Tòa nhà Nghị viện

Vào buổi tối 27 tháng 2 năm 1933, Tòa nhà Nghị viện bị cháy. Có đủ chứng cứ hợp lý cho thấy chính Quốc xã dưới sự chỉ đạo của Hermann Göring đã lên kế hoạch và tạo ra đám cháy nhằm phục vụ mưu đồ chính trị của họ. Một ngày sau vụ cháy, 28 tháng 2, Hitler yêu cầu Tổng thống ký nghị định "Cho việc Bảo vệ Nhân dân và Nhà nước" đình chỉ bảy đoạn trong hiến pháp đảm bảo quyền tự do cá nhân như là "biện pháp phòng vệ chống lại những hành động bạo lực của cộng sản phương hại đến đất nước". Nghị định còn cho phép chính phủ Đế quốc hành xử mọi quyền hạn của các bang khi cần thiết, và áp dụng hình phạt tử hình cho một số tội danh, kể cả tội "làm mất trật tự trị an một cách nghiêm trọng" do người có vũ trang. Thế là Hitler đã có thể bịt miệng đối thủ một cách hợp pháp và bắt giữ họ tùy ý, bằng cách mang hiểm họa của cộng sản ra hù dọa.
Ngày 23 tháng 3 năm 1933, Luật Trao quyền – có tên chính thức là "Luật Phòng chống Tai họa của Nhân dân và Đế chế" tước đoạt quyền lập pháp của Nghị viện kể cả việc phê chuẩn hiệp ước với nước ngoài và tu chính hiến pháp, và trao các quyền này cho nội các trong thời hạn bốn năm. Thêm nữa, Luật Trao quyền quy định Thủ tướng sẽ soạn thảo và ban hành luật mới "có thể khác biệt với hiến pháp". Thế là, nền dân chủ nghị viện rốt cuộc đã bị chôn vùi. Ngoại trừ những vụ bắt bớ đảng viên Cộng sản và vài đại biểu Dân chủ Xã hội, tiến trình diễn ra khá hợp pháp, dù là qua cách khủng bố. Kể từ ngày 23 tháng 3 năm 1933 trở đi, Hitler là nhà độc tài của đế chế, không còn bị nghị viện kiềm chế, và trên thực tế cũng không bị tổng thống kiềm chế.

Giải tán nghiệp đoàn

Để ru ngủ giới nghiệp đoàn trước khi ra tay, chính phủ Quốc xã tuyên bố Ngày Lao động năm 1933 là ngày lễ toàn quốc, được chính thức gọi là "Ngày Lao động Quốc gia", và chuẩn bị chương trình kỷ niệm như thể chưa từng được kỷ niệm trọng thể như thế. Giới lãnh đạo nghiệp đoàn lấy làm cảm kích và hồ hởi cộng tác với chính phủ và đảng nhằm cử hành ngày lễ được thành công. Các nhà lãnh đạo nghiệp đoàn khắp địa phương được đưa về Berlin, hàng nghìn băng-rôn được giăng ra tuyên dương tình đoàn kết giữa chế độ Quốc xã và công nhân.
Hitler đích thân tiếp đón các đoàn đại biểu công nhân, tuyên bố: "Các anh sẽ thấy câu nói cách mạng chống lại công nhân Đức là sai lầm và thiếu công tâm". Sau đấy, phát biểu trước 100.000 công nhân tụ tập ở sân bay, Hitler hô khẩu hiệu: "Tôn vinh lao động và tôn trọng công nhân!" và hứa rằng sẽ tiến hành kỷ niệm Ngày Lao động để tôn vinh lao động Đức "suốt nhiều thế kỷ".
Ngày 2 tháng 5 năm 1933, các trụ sở nghiệp đoàn trên khắp cả nước bị chiếm đóng, ngân quỹ nghiệp đoàn bị tịch thu, các nghiệp đoàn bị giải tán, và các nhà lãnh đạo bị bắt giữ. Nhiều người bị đánh đập và đưa vào trại tập trung.
Chỉ trong ba tuần, người ta thấy rõ thêm một lời hứa rỗng tuếch của Quốc xã. Hitler ban hành một luật mới chấm dứt việc thương thuyết tập thể, trên thực tế cấm công nhân đình công.

Cái chết của Hindenburg

Hitler và Tổng thống Hindenburg (tháng 2, 1934)
Ngày 2 tháng 8 năm 1934, Tổng thống Ludwig von Hindenburg qua đời, hưởng thọ 87 tuổi. Theo một luật mới do nội các ban hành ngày hôm trước, hai chức vụ Thủ tướng và Tổng thống được nhập lại làm một, và Adolf Hitler đã nhậm chức lãnh đạo đất nước kiêm Tư lệnh Tối cao Quân lực. Chức vụ Tổng thống bị bãi bỏ; Hitler chính thức là Lãnh tụ và Thủ tướng Đế chế. Quốc xã chính thức loan báo là không thể tìm ra bản di chúc hoặc tuyên cáo nào của Hindenburg, và có thể xem như không có. Một bản tuyên cáo chính trị của Hindenburg tỏ lộ ý muốn cuối cùng của ông là phục hồi vương triều sau khi ông qua đời, nhưng Hitler giấu đi đoạn này. Một bản văn thứ hai có nội dung đề xuất một người của vương triều Hohenzollern làm tổng thống, nhưng sau chiến tranh người ta không thể tìm lại bản văn này. Có lẽ Hitler đã nhanh chóng thiêu hủy nó. Ngày 19 tháng 8 năm 1934, khoảng 95% cử tri đi bỏ phiếu trong cuộc trưng cầu dân ý, và 90% chấp thuận cho Hitler chiếm mọi quyền lực. Chỉ có 4 triệu rưởi người Đức có can đảm – hoặc có ước nguyện – nói "Không".
Đến nay nhiều người vẫn còn khiếp sợ những tội ác của Hitler trong suốt thời gian ông ta cầm quyền. Nói đến Hitler, hẳn người ta thoạt tiên biết rằng ông ta là một nhà độc tài - nhà lãnh đạo tối cao nằm quyền lực tuyệt đối thống trị dân chúng của mình. Nhưng thực chất Hitler không phải là vị lãnh đạo đầu tiên như vậy. Ý tưởng về một "Nhà độc tài" xuất phát từ hàng nghìn năm trước ở La Mã cổ đại, khi danh tướng Julius Caesar tự tấn phong mình làm "Nhà Độc tài suốt đời". Sau khi Caesar bị ám sát vào năm 44 trước Công Nguyên thì người La Mã xóa bỏ chức vị này và không dùng đến nó nữa. Song, trải qua mấy thế kỷ trước, các ông hoàng bà chúa cũng nắm đại quyền cai trị đất nước, điển hình như Sa hoàng Pyotr Đại đế của Nga và Quốc vương Louis XIV của Pháp. Vào thế kỷ 20 cũng có những nhà độc tài như Mussolini ở Ý - với hoài bão tái lập Đế quốc La Mã xưa - và Stalin ở Liên Xô - với tham vọng gầy dựng một xã hội Cộng sản lớn nhằm đặt tiền đề cho một cuộc Cách mạng trên thế giới. Nhưng nhà độc tài nguy hiểm nhất vẫn là Adolf Hitler. [18]

Lừa dối Đồng minh

Khi Hitler lên nắm chính quyền, một trong những việc đầu tiên của ông là gây rối các đối thủ của Đức ở Châu Âu bằng cách kêu gọi giải trừ quân bị, hô hào hòa bình, và để mắt phát hiện điểm yếu của họ. Ngày 17 tháng 5 năm 1933, Hitler đọc bài "Diễn văn Hòa bình" trước Nghị viện. Đây là một trong những bài diễn văn quan trọng nhất trong sự nghiệp của Hitler, một kiệt tác trong nghệ thuật tuyên truyền lừa dối đã khiến người Đức cảm động một cách sâu sắc. Bài diễn văn cũng khiến cho dân Đức đoàn kết sau lưng Hitler và tạo ấn tượng tốt cho thế giới bên ngoài. Hitler tuyên bố:
“ Nước Đức hoàn toàn sẵn sàng từ bỏ mọi vũ khí tấn công nếu các quốc gia đã vũ trang cũng sẽ phá hủy vũ khí tấn công của họ... Nước Đức cũng rất sẵn sàng giải tán cả quân đội và phá hủy số vũ khí ít ỏi còn lại, nếu các nước láng giềng cũng làm thế... Nước Đức sẵn sàng ký kết bất kỳ hiệp ước bất tương xâm nào, bởi vì Đức không nghĩ đến việc tấn công mà chỉ nghĩ đến tìm kiếm an ninh.
”
—Adolf Hitler
Còn có nhiều điều khác trong bài diễn văn, với ngôn từ có chừng mực và thể hiện lòng khao khát hòa bình. Đức không muốn chiến tranh. Chiến tranh là "sự điên rồ vô bờ bến". Chiến tranh sẽ "làm sụp đổ trật tự xã hội và chính trị hiện giờ". Đức Quốc xã không muốn "Đức hóa" những dân tộc khác.
“ Người Pháp, người Ba Lan và những dân tộc khác là láng giềng của chúng tôi, và chúng tôi biết không biến cố nào có thể thay đối thực tế này.
”
—Hitler
Có một lời cảnh cáo. Đức đòi hỏi được đối xử bình đẳng với mọi quốc gia khác, đặc biệt là về giải trừ quân bị. Nếu điều này không đạt được, Đức sẽ rút ra khỏi Hội nghị Giải trừ quân bị và Hội Quốc liên.
Lời cảnh cáo chìm trong quên lãng giữa nỗi vui mừng khắp thế giới phương Tây đối với thái độ biết điều bất ngờ của Hitler. Báo chí Anh đăng tải những bài bình luận có thiện cảm với ý tưởng của Hitler. Lời lẽ của nhà độc tài thích bạo động của Quốc xã không phải là đe dọa dữ dằn như người ta e ngại lúc đầu, mà là ngọt ngào và dịu dàng.
Nhưng lời cảnh cáo của Hitler không phải là rỗng tuếch, mà ông làm đúng như những gì đã nói. Khi thấy rõ rằng Đồng Minh cứ khăng khăng về thời gian 8 năm để giải trừ quân bị xuống bằng với mức của Đức, ngày 14 tháng 10 năm 1933, thình lình Hitler loan báo rằng, vì không được các cường quốc ở Geneva đối xử bình đẳng, Đức lập tức rút lui khỏi Hội nghị Giải trừ quân bị và Hội Quốc liên.
Ngày 21 tháng 5 năm 1935, Hitler đọc một bài "Diễn văn Hòa bình" nữa ở Nghị viện – có lẽ là bài diễn văn hùng hồn nhất. Ông trấn an rằng tất cả những gì ông muốn chỉ là hòa bình và cảm thông dựa trên sự bình đẳng cho mọi bên. Ông bác bỏ ý tưởng chiến tranh; đấy là vô nghĩa, vô ích, cũng là điều kinh hoàng. [cần dẫn nguồn]
“ Những cuộc đổ máu trên lục địa Châu Âu trong ba trăm năm qua không cho thấy có sự thay đổi tương xứng. Chung cuộc Pháp vẫn là Pháp, Đức là Đức, Ba Lan là Ba Lan, Ý vẫn là Ý. Tính tự cao của vương triều, nỗi đam mê chính trị và sự mù quáng ái quốc chẳng đạt được gì nhiều qua những thay đổi chính trị sâu xa với máu chảy thành sông... Những tố chất cơ bản của họ vẫn không đổi. Nếu các quốc gia này chỉ cần mang một phần hy sinh nhỏ nhoi để phục vụ mục đích khôn ngoan hơn, thì thành công sẽ to tát hơn và trường cửu hơn.
”
—Hitler
Hitler tuyên bố là Đế chế Đức không hề có ý nghĩ nào về việc thôn tính những dân tộc khác.
“ Nước Đức Quốc gia Xã hội Chủ nghĩa mong mỏi hòa bình... cũng vì nhận thức được sự kiện nguyên thủy đơn giản nhất là không có cuộc chiến tranh nào có thể thay đổi khổ đau ở Châu Âu... Hậu quả chủ yếu của mỗi cuộc chiến tranh là hủy hoại tinh hoa của đất nước.... Nước Đức cần hòa bình và đòi hỏi hòa bình!
”
—Hitler
Hitler luôn nhấn mạnh điểm này. Cuối cùng, ông đưa ra 13 đề xuất cụ thể nhằm duy trì hòa bình, tạo ấn tượng sâu đậm đối với nước Đức và cả Châu Âu. Ông rào đón với lời nhắc nhở:
“ Nước Đức đã long trọng nhìn nhận và đảm bảo với Pháp đường biên giới... Bỏ qua quá khứ, Đức đã ký kết hiệp ước bất tương xâm với Ba Lan... Chúng tôi sẽ tôn trọng vô điều kiện hiệp ước này... Chúng tôi nhìn nhận Ba Lan là ngôi nhà của một dân tộc to tát và có lòng ái quốc cao độ.
”
—Hitler
Và đối với Áo: [cần dẫn nguồn]
“ Đức không có ý định và cũng không mong muốn can thiệp vào nội bộ của Áo, sáp nhập Áo vào Đức, hoặc thống nhất Áo và Đức...
”
—Hitler
Nhật báo có tầm ảnh hưởng rộng nhất nước Anh, tờ Times, hoan nghênh đến mức gần như cuồng nhiệt: "Bài diễn văn hóa ra đúng lý, thẳng thắn và toàn vẹn. Những ai với óc công tâm đều tin rằng chính sách do ông Hitler đưa ra có thể tạo nên một tiền đề tốt để đạt thỏa thuận trọn vẹn với Đức – một nước Đức tự do, bình đẳng và mạnh mẽ thay vì một nước Đức kiệt quệ bị áp đặt hòa bình mười sáu năm trước... Hy vọng rằng bài diễn văn sẽ được mọi phía chấp nhận là lời phát biểu chân thành và có suy xét, thể hiện chính xác những gì đã trình bày."[cần dẫn nguồn] Tờ báo nổi danh này, một trong những vinh quang chính trong ngành báo chí ở Anh, lại đóng vai trò giống như chính phủ Neville Chamberlain trong việc xoa dịu Hitler.
Chỉ trong vòng vài năm sau, những cam kết của Hitler trở nên vô nghĩa: Đức sáp nhập Áo vào Đức, xâm lăng Ba Lan, tấn công Pháp cùng một số nước Tây Âu.

Lừa dối Ba Lan

Ba Lan là quốc gia mà người Đức có ác cảm nặng nề nhất. Trong tâm tưởng của người Đức, lỗi lầm gớm ghiếc nhất của Hòa ước Versailles là tách Đông Phổ khỏi phần còn lại của lãnh thổ Đức để sáp nhập vào Ba Lan, tạo nên Hành lang Ba Lan.
Hitler thấy rằng trước khi tiêu diệt Ba Lan, cần tách nước này ra khỏi mối liên kết với Pháp. Sách lược ông đang theo đuổi có nhiều lợi điểm nhất thời. Bằng cách từ bỏ sử dụng vũ lực, ông có thể củng cố làn sóng truyên truyền cho hòa bình và xóa đi nỗi nghi ngại ở cả hai vùng Tây Âu và Đông Âu. Bằng cách mời Ba Lan đàm phán trực tiếp, ông có thể né tránh Hội Quốc liên và làm suy yếu chức năng của tổ chức này. Và ông tấn công vào ý niệm của Hội Quốc liên về "an ninh tập thể", đồng thời lũng đoạn những mối liên minh của Pháp với Đông Âu, trong đó Ba Lan là pháo đài vững chắc. Người dân Đức vốn thù ghét Ba Lan có thể không hiểu được, nhưng đối với Hitler một trong những lợi điểm của chế độ độc tài là có thể tạm thời theo đuổi chính sách mất lòng dân để đạt mục đích trong lâu dài.
Ngày 26 tháng 1 năm 1934, hiệp ước bất tương xâm giữa Đức và Ba Lan có hiệu lực trong 10 năm được ký kết. Từ ngày này, Ba Lan dần dần rời xa khỏi Pháp, nước bảo vệ Ba Lan từ khi Ba Lan ra đời năm 1919, và trở nên thân cận hơn với Đức Quốc xã. Đấy là con đường dẫn đến sự sụp đổ của Ba Lan trước khi hiệp ước bất tương xâm hết hạn.

Hitler thôn tính Tiệp Khắc

Nhằm chuẩn bị thôn tính Tiệp Khắc, Hitler kết hợp những yếu tố lừa dối, khủng bố tinh thần, chớp thời cơ và đánh nước cờ liều. Hitler viện cớ người Đức thiểu số Sudeten ở Tiệp Khắc bị áp bức để quấy động, khuynh đảo, tung hỏa mù và gây hiểu lầm giữa những sắc dân ở nước này, và che giấu mục đích thực sự của ông: để hạ gục Tiệp Khắc và chiếm lấy lãnh thổ cùng dân cư cho Đế chế thứ Ba. Hitler phổ biến ý định này ngày 5 tháng 11 năm 1937 cho giới chỉ huy quân đội và ngoại giao cao cấp.
Vì muốn xoa dịu Hitler, Thủ tướng Anh Arthur Neville Chamberlain đi đến hội kiến với Hitler tại Berchtesgaden ngày 15 tháng 9 năm 1938. Vị khách đã 69 tuổi và chưa từng đi máy bay lại có cuộc hành trình dài 7 tiếng đồng hồ (kể cả chặng tàu lửa mất 3 tiếng) để đến địa điểm hội kiến ở phần xa nhất của nước Đức. Hitler đã không tạo thuận lợi để đề nghị nơi gặp gỡ bên sông Rhein, vốn có thể giảm đường bay còn một nửa. Đấy là chủ định khủng bố thể chất đầu tiên.
Kế tiếp là những màn hù dọa của Hitler, trong Đức không đủ mạnh để tham chiến chống lại Tiệp Khắc và Anh-Pháp, chưa kể đến Liên Xô. Nếu Đức gây hấn, Đức sẽ chiến bại một cách nhanh chóng và dễ dàng, và đây sẽ là dấu chấm hết cho Hitler và Đế chế thứ Ba. Nếu vào giờ chót chiến tranh toàn Châu Âu không thể tránh khỏi, Quân đội Đức hẳn đã lật đổ Hitler ngay sau khi ông ra lệnh tấn công Tiệp Khắc.
Trò lừa dối chủ yếu là Hitler cam kết vấn đề Tiệp Khắc là yêu cầu cuối cùng của ông ở Châu Âu về lãnh thổ. Vì thế, Chamberlain gây áp lực bắt Tiệp Khắc phải nhượng bộ. Kết quả là Hiệp ước München, theo đó Tiệp Khắc nhường cho Đức gần 30.000 kilômét vuông lãnh thổ. Trên lãnh thổ này là một hệ thống lô cốt mà từ trước đến giờ tạo nên tuyến phòng thủ vững chắc nhất Châu Âu, có lẽ chỉ kém Phòng tuyến Maginot của Pháp. Cả hệ thống đường sắt, đường bộ, điện thoại và điện tín của Tiệp Khắc đều bị xáo trộn. Theo số liệu của Đức, Tiệp Khắc mất trên dưới 80% than non, hóa chất, xi măng; trên dưới 70% than đá, sắt, thép, điện năng; và 40% gỗ. Một đất nước công nghiệp phồn thịnh trong phút chốc bị tan rã và phá sản.
Dù đã đạt thắng lợi lớn lao và làm nhục cả Tiệp Khắc lẫn các nước dân chủ phương Tây, Hitler vẫn thất vọng về kết quả của Hiệp ước München. Ông ta thán với tùy tùng khi trở về Berlin: "Cái ông ấy [chỉ Chamberlain] đã làm tôi mất cơ hội tiến vào Praha!" Đấy chính là điều Hitler mong muốn ngay từ đầu, như ông đã liên tục thổ lộ với tướng lĩnh từ lúc phát biểu với họ ngày 5 tháng 11 năm trước. Lúc ấy, ông đã giải thích rằng việc thôn tính Áo và Tiệp Khắc chỉ là bước đầu để mở rộng Lebenraum – "không gian sinh sống" – về miền Đông và tính sổ với Pháp bằng quân sự ở miền Tây. Như ông đã bảo Thủ tướng Hungary ngày 20 tháng 9, cách tốt nhất là "trừ khử Tiệp Khắc". Ông nói đấy là "giải pháp thỏa đáng duy nhất". Ông chỉ e ngại "nguy cơ" là người Tiệp sẽ nhận chịu mọi yêu sách của ông.
Kế tiếp, ông Chamberlain lại đến München và ép buộc người Tiệp nhận chịu mọi yêu sách của Đức và do đó đã tước đi cơ hội cho Hitler thôn tính bằng vũ lực. Đấy là tư tưởng xảo trá của Hitler. Sau này, ông thổ lộ với tướng lĩnh: "Rõ ràng là ngay từ đầu tôi không thể hài lòng với lãnh thổ Sudetenland. Đấy chỉ là giải pháp nửa vời."
Tổng thống Tiệp Khắc Emil Hácha đến hội kiến với Hitler, và cũng chịu một trận khủng bố tinh thần. Hitler tuyên bố:
Sáu giờ sáng ngày mai Quân đội Đức sẽ tiến vào Tiệp Khắc từ mọi ngả và Không quân Đức sẽ chiếm lấy các sân bay của Tiệp Khắc. Có hai khả năng xảy ra. Thứ nhất là việc tiến quân của Đức có thể dẫn đến nổ súng. Trong trường hợp này, mọi kháng cự sẽ bị đập tan... Khả năng kia là việc tiến quân được thực hiện theo cách ôn hòa, trong trường hợp này sẽ dễ dàng cho Lãnh tụ chấp thuận Tiệp Khắc có đời sống cho riêng họ, được tự trị, và sẽ được hưởng phần nào quyền tự do cho quốc gia...
Nếu phải chiến đấu... trong hai ngày Quân đội Tiệp Khắc sẽ tan tành. Dĩ nhiên là có vài người Đức cũng bị giết và điều này sẽ kéo theo lòng hận thù vốn sẽ ngăn chặn ông chấp thuận quyền tự trị...
Lúc Hitler tạm chia tay với khách, đồng hồ chỉ 2 giờ 15 khuya, nhưng Hermann Göring và Joachim von Ribbentrop tiếp tục gây áp lực lên Tổng thống cùng Ngoại trưởng. Tổng thống Hácha ngã ra bất tỉnh, được cứu cho tỉnh lại rồi bị ép nói chuyện với chính phủ của ông ở Praha và khuyên nên nhượng bộ. Rồi ông loạng choạng trở lại gặp Hitler mà ký bản án tử hình cho Tiệp Khắc. Bây giờ là 4 giờ sáng kém 5 phút ngày 16 tháng 3 năm 1939.
Lúc 6 giờ sáng ngày 15 tháng 3 năm 1939, quân Đức tràn vào Tiệp Khắc. Họ không gặp sự kháng cự nào, và đến buổi tối Hitler có thể tiến bước như người chiến thắng vào thủ đô Praha. Trước khi rời Berlin, Hitler ra một tuyên cáo hùng hồn cho dân Đức, lặp lại lời dối trá về những hành động "quá trớn man dại" và "khủng bố" của người Tiệp mà ông bị bắt buộc phải ra tay chấm dứt, và tuyên bố một cách hãnh diện "Tiệp Khắc đã bị xóa sổ!"

Hitler thôn tính Slovakia

Với mục đích làm suy yếu Tiệp Khắc, Đức muốn tách Slovakia khỏi Tiệp Khắc. Để thực hiện việc này, Đức giúp Josef Tiso (nguyên Thủ tướng của Slovakia đã bị Tổng thống Hácha cách chức) thảo một bức điện tín mà ông này gửi cho Hitler để tuyên cáo nền độc lập của Slovakia và yêu cầu Hitler bảo vệ cho quốc gia mới này.
Ngày 16 tháng 3 năm 1939, thể theo lời "yêu cầu" của Tiso, Hitler đặt Slovakia dưới sự bảo vệ của Đức. Quân đội Đức nhanh chóng tiến vào Slovakia để thực hiện sự "bảo vệ". Đức và Slovakia ký kết "Hiệp ước Bảo vệ". Thủ tướng Anh Chamberlain dựa trên tuyên ngôn "độc lập" của Slovakia để viện cớ Anh không cần giữ lời cam kết. Thế là, chiến lược của Hitler đã có kết quả toàn hảo. Ông đã cho Chamberlain một con đường thoát và Chamberlain đã chọn con đường này.

Tính hoang tưởng của Hitler

Trong buổi họp mật ngày 23 tháng 11 năm 1939 trước tướng lĩnh cấp cao để chuẩn bị kế hoạch tiêu diệt Hà Lan và Bỉ, Hitler phát biểu với đầu óc hoang tưởng một cách nguy hiểm:
Tôi phải nói về tôi với tất cả sự khiêm tốn: không thể thay thế. Không ai trong giới quân sự hoặc dân sự có thể thay thế tôi... Tôi tin tưởng vào năng lực trong tri thức của tôi và quyết định của tôi... Không một ai đã tạo được thành tựu như tôi... Tôi đã dẫn dắt nhân dân Đức lên một tầm cao mới, dù cho nếu bây giới thế giới ghét bỏ ta... Vận mệnh của nước Đức chỉ tùy thuộc nơi tôi. Tôi sẽ theo đấy mà hành xử..
Theo nhiều khía cạnh, ngày 23 tháng 11 năm 1939 là một điểm mốc, đánh dấu vị thế áp đảo của Hitler trong Quân đội Đức. Từ ngày này trở đi, người cựu hạ sĩ gốc Áo xem sự suy xét chính trị và quân sự của mình là vượt trội so với các tướng lĩnh, và do đó không muốn nghe họ tham mưu cho ông hoặc không cho phép họ chỉ trích ông. Kết quả chung cuộc sẽ là một thảm họa cho tất cả.
Hitler xua quân Đức tiến công Liên Xô ngày 22 tháng 6 năm 1941 với chiến thuật thần tốc đã giúp nước Đức hạ gục nhanh chóng Ba Lan và Tây Âu. Ngày 3 tháng 10, Hitler tuyên cáo với toàn dân Đức:
Tôi tuyên bố ngày hôm nay, và tôi tuyên bố mà không ngần ngại, rằng kẻ thù ở miền Đông (Liên Xô) đã bị đánh gục và sẽ chẳng bao giờ vươn lên được nữa...
Đó là kết luận quá sớm, vì tính hoang tưởng và ngông cuồng, tự kiêu tự đại. Các tướng lĩnh Đức chủ trương phương án tiến thẳng đến thủ đô Moskva. Các tướng lĩnh biện luận với Hitler rằng Moskva là trung tâm sản xuất vũ khí quan trọng, và quan trọng hơn, cũng là trung tâm giao thông liên lạc của nước Nga. Nếu chiếm được Moskva, Liên Bang Xô Viết sẽ bị cắt nguồn cung cấp vũ khí thiết yếu, và còn không thể vận chuyển binh sĩ cùng hàng hậu cần đến những trận tuyến ở xa, rồi họ sẽ yếu đi, tàn tạ và sụp đổ. Hitler thì muốn chiếm lấy Ukraina cũng như những mỏ dầu vùng Kavkaz, cùng lúc chiếm lấy Leningrad và bắt tay với quân Phần Lan ở miền bắc. Để đạt được cả hai mục tiêu này, phải tách vài sư đoàn bộ binh và thiết giáp từ Tập đoàn quân Trung tâm để điều đi miền bắc và nhất là miền nam. Mũi tiến công đến Moskva phải đình lại. Đến ngày 5 tháng 9, Hitler mới ra lệnh gấp rút tiến đến Moskva. Nhưng một lần nữa, Hitler là nạn nhân của tính ngông cuồng hoang tưởng. Chiếm Moskva trước mùa đông là không đủ. Ông ra lệnh cho Quân đội Đức cùng lúc phải chiếm lấy Leningrad (hiện nay là Sankt-Peterburg, bắt tay với quân Phần Lan phía ngoài thành phố này. Kết quả là Quân đội Đức không thể chiếm được mục tiêu nào cả. Đến ngày 26 tháng 11, Quân đội Đức liệt kê tổng cộng thương vong trên mặt trận miền Đông (không kể người bệnh) là 743.112 sĩ quan và binh sĩ – 23 phần trăm của lực lượng với quân số tổng cộng 3,2 triệu.
Sang năm 1942, tính hoang tưởng lại làm hại Lãnh tụ Hitler. Tham mưu trưởng Lục quân Franz Ritter von Halder ghi lại trong nhật ký: "Việc liên tục đánh giá thấp khả năng của đối phương đang mang những hình thức lố bịch và trở nên nguy hiểm." Halder cho là Hitler nhận định quá đáng về sức mạnh của chính mình và đánh giá quá thấp sức mạnh của địch thủ qua mẩu chuyện sau đây: "Có lần khi nghe trình bày một báo cáo khá khách quan, cho biết vào năm 1942 Stalin có thể điều động từ 1 triệu đến 1,25 triệu binh sĩ mới còn khỏe mạnh cho vùng bắc Stalingrad và tây sông Volga chưa kể nửa triệu quân trong vùng Kavkaz, và công suất chế tạo xe tăng hàng đầu lên đến ít nhất 1.200 chiếc mỗi tháng, Hitler nhảy xổ đến người đang đọc báo cáo, hai bàn tay nắm lại thành nắm đấm, miệng sùi bọt ra hai bên mép, ra lệnh ông này không được nói năng nhảm nhí nữa."
Vì tính hoang tưởng, Hitler không màng nghe sự tham mưu của tướng lĩnh, mà vẫn nhất quyết một cách cuồng tín chiếm lấy cả hai mục tiêu: Stalingrad cùng lúc Kavkaz. Đây là một trong những động thái có tính định mệnh nhất của Hitler trong cuộc chiến. Vì lẽ, rốt cuộc Hitler không thể chiếm được mục tiêu nào, mà còn chịu một chiến bại nhục nhã nhất trong lịch sử Quân đội Đức, khi Thống chế Friedrich Paulus dẫn Đại đoàn thứ Sáu đầu hàng Liên Xô.
Xem chi tiết: Friedrich Paulus.

Những ngày cuối cùng của Hitler

Vào ngày 16 tháng 1 năm 1945, Hitler trở về thủ đô Berlin, từ boong-ke sâu 16 mét phía dưới Phủ Thủ tướng chỉ đạo các đoàn quân đang vỡ vụn trước sức tiến công của Hồng quân Liên Xô và Quân đội Đồng Minh vào lãnh thổ Đức. Trong cuộc chiến tranh, ông ta chỉ trang hoàng duy nhất một vật tại boong-ke sâu 16 mét phía dưới Phủ Thủ tướng của mình, đó là bức chân dung của vua Friedrich II Đại Đế do họa sĩ Anton Graff thực hiện. Ông ta nói với tướng Guderian vào tháng 2 năm 1945: [5]
“ Bức tranh này luôn luôn đem lại cho tôi sức mạnh khi những hung tin đe dọa tới tinh thần của tôi. ”
—Adolf Hitler
Chính vị vua lừng danh này cũng từng phải đối chọi với một liên quân chống Phổ trong cuộc Chiến tranh Bảy năm tàn khốc (1756 - 1763), và toàn thắng sau khi liên quân tan rã[19]. Adolf Hitler tin rằng ông cũng vĩ đại như vua Friedrich II Đại Đế, và cũng sẽ giành thắng lợi tương tự như vị vua Phổ xưa.[20] Trong tình trạng thể chất và tinh thần suy sụp, Hitler đưa ra một trong những quyết định quan trọng cuối cùng trong đời. Ngày 19 tháng 3 năm 1945, ông ra lệnh phá hủy tất cả các cơ sở quân sự, công nghiệp, giao thông và viễn thông cũng như mọi cửa hàng trên đất Đức để tránh rơi vào tay Hồng quân Liên Xô và Quân đội Đồng Minh. Nước Đức sẽ biến thành đồng không và không thứ gì còn lại để giúp người dân Đức có thể sống sau chiến bại.
Người dân Đức tránh khỏi thảm họa cuối cùng là do những nỗ lực tuyệt vời của Bộ trưởng Khí tài và Vũ trang Albert Speer và một số sĩ quan Quân đội đã kháng lệnh của Hitler. Họ đã chạy cùng khắp nước Đức để đảm bảo sĩ quan quân đội và đảng viên phục tùng một cách nhiệt tình không phá hủy những cơ sở ấy. Một phần cũng nhờ sự tiến quân thần tốc của Đồng Minh khiến cho công tác phá hủy trên diện rộng như thế là bất khả thi.
Hitler đã định rời Berlin ngày 20 tháng 4 năm 1945, sinh nhật thứ 56 của ông, để đi Obersalzberg và chỉ đạo cuộc chiến từ nơi này. Mười ngày trước, chính Hitler đã phái toán nhân viên hộ lý của ông đi Obersalzberg để chuẩn bị cho ngôi biệt thự Berghof đón ông đến. Tuy nhiên, định mệnh khiến cho Hitler không bao giờ được nhìn lại nơi chốn nghỉ dưỡng mà ông yêu thích. Hồi kết đến nhanh hơn là ông dự tính, vì quân Mỹ và Liên Xô tiến quá nhanh vào đất Đức.
Sinh nhật 20 tháng 4 của Hitler trải qua một cách trầm lặng, dù tướng lĩnh Đức ghi nhận thêm thảm họa trên các mặt trận. Tất cả các lãnh đạo Quốc xã kỳ cựu đều có mặt: Hermann Göring, Joseph Göbbels, Heinrich Himmler, Joachim von Ribbentrop và Martin Bormann, cũng như những chỉ huy quân đội còn sót lại: Karl Dönitz, Wilhelm Keitel, Alfred Jodl và Hans Krebs (tân Tham mưu trưởng Lục quân, và cũng là người cuối cùng trong chức vụ này).
Hitler không tỏ ra tuyệt vọng, cho dù tình hình tồi tệ. Ông vẫn tự tin, như ông nói với các tướng lĩnh 3 ngày trước rằng quân Nga sẽ chịu đổ máu nặng nề nhất trước Berlin. Các tướng lĩnh biết rõ hơn ông, và trong buổi họp quân sự thường kỳ sau khi ăn mừng sinh nhật, họ khuyên ông nên rời Berlin để đi về miền nam. Họ giải thích rằng chỉ 1 hoặc 2 ngày nữa quân Nga sẽ cắt đứt hành lang đi về hướng ấy. Hitler lưỡng lự; ông không nói đồng ý hay chối từ. Hiển nhiên là ông không thể đối mặt với sự kiện kinh khủng là thủ đô của Đế chế thứ Ba sắp bị Liên Xô chiếm đóng, trong khi chỉ vài năm trước ông đã tuyên bố rằng kẻ thù này đã bị đánh gục.
Nhưng Hitler vẫn chưa chịu buông xuôi. Ông đã ra lệnh tướng SS Felix Steiner tổng phản công quân Liên Xô ở những vùng ngoại ô phía nam của Berlin. Tất cả binh sĩ trú đóng trong vùng Berlin sẽ được tung ra trận đánh, kể cả binh sĩ không quân hiện diện trên mặt đất. Trong hai ngày kế, Hitler nôn nóng chờ đợi tin tức về cuộc phản công của Steiner. Đây là thêm một ví dụ ông đã không còn biết gì về tình hình thực tế. Cuộc phản công của Steiner không hề diễn ra, mà chỉ nằm trong tâm trí nóng bỏng của nhà độc tài tuyệt vọng.
Trong buổi họp quân sự ngày 22 tháng 4, Hitler giận dữ đòi hỏi được biết tin tức về Steiner. Các tướng lĩnh đều không trả lời được, nhưng cho biết việc điều quân từ hướng bắc đi tăng viện cho Steiner ở hướng nam đã khiến cho mặt trận hướng bắc suy yếu, quân Liên Xô thâm nhập ở đây và xe tăng của họ đã tiến vào bên trong thành phố.
Hitler không còn có thể chịu được nữa. Mọi nhân chứng còn sống sót sau này đều kể lại rằng Hitler hoàn toàn mất tự chủ. Ông nổi cơn thịnh nộ dữ tợn nhất trong đời. Ông la hét rằng đây là hồi kết cục. Mọi người đã bỏ rơi ông. Không còn gì nữa, mà chỉ có phản bội, dối trá, tham nhũng và hèn nhát. Tất cả đã hết. Thôi được, ông sẽ ở lại Berlin. Ông sẽ đích thân chỉ huy sự phòng vệ thủ đô của Đế chế thứ Ba. Những người khác có thể đi nếu muốn. Tại nơi này, ông sẽ đối mặt với đoạn cuối của đời ông. Ông nói với tất cả những người quanh ông rằng ông đã quyết định. Và để chứng tỏ cho mọi người thấy không gì đảo ngược lại được, ông gọi một thư ký và với sự hiện diện của họ, đọc một bản tuyên bố sẽ được truyền ngay trên sóng phát thanh. Bản tuyên bố cho biết Hitler sẽ ở lại Berlin và bảo vệ thủ đô cho đến cùng.
Boong-ke tại Berlin của Hitler năm 1945
Có hai vị khách cuối cùng đi đến boong-ke của Hitler: Hanna Reitsch, nữ phi công tài ba chuyên lái máy bay thử nghiệm có ác cảm thậm tệ với Göring, và Đại tướng không quân Robert Ritter von Greim mà ngày 24 tháng 4 ở München đã nhận lệnh của Hitler về trình diện ông. Chiếc máy bay chở hai người trên chặng cuối vào tối 26 tháng 4 bị đạn phòng không của Liên Xô bắn trúng, và một chân của Greim bị thương nặng.
Hitler đi đến phòng giải phẫu, nơi một bác sĩ đang băng bó vết thương của Greim, rồi phong cho vị tướng đang nằm dưỡng thương chức Tư lệnh Không quân và thăng ông quân hàm Thống chế (là thống chế Đức cuối cùng trong cuộc chiến).
Ngày 28 tháng 4, Hitler có vẻ như lại hy vọng, nhưng thật ra đấy là hoang tưởng. Ông gọi máy vô tuyến cho Keitel, hỏi han về những cánh quân Đức trong chiến dịch giải cứu Berlin. Nhưng "chiến dịch" này chỉ có trong trí tưởng tượng của Hitler. Các đội quân Đức mà Hitler trông chờ hoặc bị tiêu diệt, hoặc vội vàng rút về hướng tây để chịu cho Đồng Minh phương Tây bắt thay vì đầu hàng quân Liên Xô. Những mũi tiền tiêu của quân Liên Xô chỉ còn cách Phủ Thủ tướng vài góc phố.
Cũng trong ngày 28 tháng 4: Bộ Tuyên truyền Đức bắt được bản tin của đài BBC ở London, cho biết Himmler đã tiến hành bí mật thương lượng để đề nghị quân đội Đức ở miền Tây đầu hàng quân Mỹ. Đối với Hitler, người không bao giờ ngờ vực lòng trung thành tuyệt đối của Himmler, đây là đòn đau đớn nhất.
Adolf Hitler và Eva Braun tại Berghof
Ít phút sau, có thêm tin báo là quân Liên Xô đang tiến đến chỉ còn cách một khu phố, và có lẽ sẽ tràn ngập Phủ Thủ tướng vào buổi sáng 30 tháng 4, cách 30 tiếng đồng hồ sau. Hai tin báo liên tiếp cho thấy dấu hiệu của hồi kết thúc. Hitler bắt buộc phải đi đến một trong những quyết định cuối của đời ông. Đến hừng sáng, ông cử hành hôn lễ với Eva Braun, soạn thảo bản di chúc và tuyên cáo cuối cùng,
Báo Mỹ đưa tin về cái chết của Hitler.
Hai văn bản Di chúc và Tuyên cáo Chính trị của Hitler đều tồn tại sau cuộc chiến theo như ý nguyện của Hitler. Hai văn bản xác định rằng người đã cai trị nước Đức với bàn tay sắt trong hơn 12 năm, và thống trị phần lớn Châu Âu trong 4 năm, đã không rút tỉa được bài học nào từ kinh nghiệm của ông. Ngay cả những bước thụt lùi và thảm bại cuối cùng vẫn không dạy cho ông được điều gì. Trong những tiếng đồng hồ cuối cùng của cuộc đời, ông luôn nguyền rủa người Do Thái về mọi vấn nạn của thế giới, và than vãn là một lần nữa định mệnh đã cướp đi chiến thắng của nước Đức. Trong lời giã biệt này với nước Đức và với thế giới mà cũng là lời kêu gọi cuối cùng với lịch sử, Adolf Hitler lại moi ra mọi lời lừa phỉnh trong quyển Mein Kampf và thêm vào những luận cứ sai lạc cuối cùng. Đấy là một bài văn bia thích hợp cho một kẻ chuyên chế say với quyền lực mà quyền lực tuyệt đối đã hoàn toàn bị phá sản. Một lần nữa, dù là lần cuối, Hitler vẫn lừa dối:
Không phải tôi hoặc bất kỳ ai ở Đức mong muốn chiến tranh vào năm 1939. Đấy chỉ là do những chính khách quốc tế đã mong mỏi và khiêu khích nên, những người hoặc có gốc Do Thái hoặc hành động vì quyền lợi của người Do Thái.
Buổi chiều 29 tháng 4, Hitler bắt đầu những bước chuẩn bị cuối cùng. Ông ra lệnh đầu độc con chó Blondi mà ông thương yêu, và cho bắn hai con chó khác. Rồi ông gọi hai nữ thư ký vào và trao cho họ những viên thuốc độc để họ dùng nếu muốn khi quân Nga tiến vào. Ông nói ông lấy làm tiếc đã không thể trao cho họ món quà từ biệt đáng quý hơn, và ông bày tỏ là ông đánh giá cao sự phục vụ lâu dài và trung thành của họ.
Đêm cuối cùng trong đời, Hitler ra lệnh cho một trong các thư ký tên Junge thiêu hủy giấy tờ còn lại trong hồ sơ của ông và truyền lệnh không ai trong boong-ke được đi ngủ cho đến khi có lệnh mới. Mọi người suy diễn ý nghĩa là ông nghĩ đã đến lúc vĩnh biệt. Nhưng đến khoảng 2:30 giờ sáng ngày 30 tháng 4, Hitler mới từ phòng riêng bước ra, đi đến nhà ăn chung, nơi khoảng 30 người tụ tập, phần lớn số này là phụ nữ làm việc cho ông. Ông đi đến bắt tay từng người và thủ thỉ nói vài tiếng mà không ai nghe rõ. Một màn nước mắt dầy phủ đôi mắt ông, theo Junge nhớ lại, "như thể nhìn đến nơi chốn xa xăm, vượt qua các bức tường của boong-ke".
Sau khi ông trở về phòng riêng, một điều kỳ lạ xảy ra. Sự căng thẳng đã tăng đến mức hầu như ngạt thở trong boong-ke đã tan biến, vài người đi đến căng-tin – để khiêu vũ. Tiếng ồn từ nhóm người này càng tăng thêm đến nỗi có lệnh đưa ra từ phòng riêng của Hitler yêu cầu giữ im lặng. Quân Nga có thể đến trong vài tiếng đồng hồ sắp tới và sẽ giết tất cả bọn họ – tuy số đông đang suy nghĩ làm cách nào để trốn thoát. Nhưng trong khoảnh khắc ngắn ngủi này, khi cuộc sống họ không còn ở dưới sự kiểm soát nghiêm ngặt của Hitler, họ muốn tìm thú tiêu khiển ở nơi và theo cách thức có thể nghĩ ra. Cảm giác thư giãn dường như lan rộng trong nhóm người này, và họ tiếp tục khiêu vũ suốt đêm.
Trưa 30 tháng 4 năm 1945, người vợ của ông có vẻ như không thấy đói, còn Hitler dùng bữa cùng với hai thư ký và người nấu bếp – người này không nhận ra là mình đã nấu bữa ăn cuối cùng cho ông. Họ ăn xong vào lúc 2 giờ rưỡi xế chiều. Trong lúc ấy, Erich Kempka, tài xế của Lãnh tụ, được lệnh mang 200 lít xăng đến giao ở khu vườn Phủ Thủ tướng. Kempka gặp vài khó khăn thu thập đủ lượng xăng như thế, nhưng cũng thu được 180 lít, rồi với 3 người khác phụ giúp mang đến cửa thoát hiểm của boong-ke.
Trong lúc ấy, Hitler đã ăn xong, đi tìm Eva Braun để cùng nói lời vĩnh biệt với những người phụ tá thân cận nhất: Göbbels, hai tướng Krebs và Wilhelm Burgdorf, các thư ký, và người nấu bếp Manzialy. Sau khi nói xong những lời vĩnh biệt, Hitler và vợ trở về phòng riêng. Ở hành lang bên ngoài, Göbbels, Bormann cùng vài người khác chờ đợi. Ít lâu sau, họ nghe một tiếng súng lục. Họ chờ nghe tiếng súng thứ hai, nhưng tất cả đều im lặng. Sau một lúc, họ nhè nhẹ bước vào phòng. Họ thấy thi thể của Adolf Hitler ngã dài trên băng ghế dài, đang rỉ máu. Ông đã tự bắn vào miệng. Eva Braun nằm kế bên ông. Hai khẩu súng lục nằm trên sàn, nhưng bà vợ không dùng súng. Bà đã nuốt thuốc độc.
Bây giờ là 3 giờ rưỡi chiều ngày Thứ Hai, 30 tháng 4 năm 1945, mười ngày sau sinh nhật thứ 56 của Hitler, mười hai năm ba tháng sau ngày ông trở thành Thủ tướng của nước Đức và thiết lập Đế chế thứ Ba. Đế chế này chỉ kéo dài hơn ông có một tuần.
Tiếp theo là tang lễ. Không ai cất lên lời nào; âm thanh duy nhất là tiếng đạn đại bác của Liên Xô nổ trong khu vườn Phủ Thủ tướng và trên những bức tường chung quanh. Người phục vụ của Hitler, Thiếu tá SS Heinz Linge, cùng một hộ lý mang thi thể của Hitler được quấn trong một tấm chăn che lấp khuôn mặt. Kempka trông thấy lộ ra ngoài tấm chăn là chiếc quần đen và đôi giầy mà Hitler luôn sử dụng. Thi thể của Eva Braun thì trông tươm tất hơn, không dính máu.
Hai thi thể được mang ra ngoài khu vườn, trong khi đại bác ngưng bắn, được để xuống một hố đạn rồi đốt bằng xăng. Nhóm người, do Göbbels và Bormann dẫn đầu, rút vào đứng trong hầm tránh bom nơi cửa thoát hiểm. Khi ngọn lửa bùng lên, họ đứng nghiêm, đưa cánh tay phải lên chào theo kiểu Quốc xã. Nghi thức diễn ra ngắn gọn, vì đạn pháo của Hồng quân lại bắt đầu rơi xuống khu vườn. Nhóm người còn sống đi vào bên trong boong-ke, để lại ngọn lửa làm nốt công việc xóa đi mọi dấu vết của Adolf Hitler và vợ của ông. Thủ đô Berlin thất thủ vào ngày 2 tháng 5 năm 1945,[21] và những tên phát xít Đức còn sống sót đã đầu hàng. [22]
Khởi đầu, người ta cho biết không tìm ra xương của hai người. Điều này nảy sinh lời đồn đại sau khi chiến tranh chấm dứt là Hitler còn sống. Nhưng quân báo Anh và Mỹ thẩm vấn độc lập vài nhân chứng cho thấy không có sự nghi ngờ gì. Sau này Liên Xô tiết lộ đã thu được mảnh vụn thi thể của Hitler kể cả một phần hộp sọ và xương hàm, được pháp y Nga, nha sĩ của Hitler và một pháp y Mỹ chứng nhận đúng là của Hitler.

Nhận định về Hitler

Những thông tin trên được chủ yếu rút ra từ quyển The rise and fall of the Third Reich – A history of Nazi Germany, của William L. Shirer. NXB: Simon and Schuster, Inc., New York, N.Y., 1960. Tựu chung, quyển sách của Shirer được trích dẫn nhiều và không thấy gây tranh cãi nào, dù tác giả là một người Mỹ. Shirer chủ yếu dựa trên khối lượng tài liệu của Đức tịch thu được sau chiến tranh, vì thế tuy đưa ra nhiều chi tiết dồi dào nhưng có thể còn một chiều theo cảm quan của phía Đức (ví dụ như nhận định về các nhà lãnh đạo Tiệp Khắc).
Quyển Hitler at war and the war path (2002) của tác giả người Anh David Irving thì gây tranh cãi nhiều hơn vì cách trình bày cuộc chiến "theo quan điểm của Hitler", tuy Irving trích dẫn lời nhận xét của tờ báo Washington Post năm 1977: "Các sử gia người Anh luôn khách quan đối với Hitler hơn là các tác giả người Đức hoặc người Mỹ". Công bằng mà nói, Irving cũng nhận được nhiều lời khen ngợi.
Irving cho biết đã sử dụng nhiều nguồn tư liệu riêng tư nên cũng đưa ra vài ánh sáng mới. Lập luận của tác giả là Hitler không có quyền hành rộng lớn đối với cấp dưới như người ta vẫn tưởng, vì thế có nhiều việc cấp dưới làm mà Hitler không biết. Điển hình là cuộc tàn sát người Do Thái, vì không tìm ra bất kỳ văn bản nào của Hitler ra lệnh làm việc này. (Irving còn treo giải thưởng 1.000 bảng Anh cho ai tìm ra một văn bản cho thấy Hitler ra lệnh tàn sát người Do Thái).
Theo Irving, Hitler cũng không có tham vọng lãnh thổ đối với Anh quốc, trong khi Shirer cho rằng tuy Hitler ngưỡng mộ nền văn minh của Anh, ý đồ tấn công Anh là nghiêm túc, chỉ vì Đức không có đủ sức mạnh hải quân cho cuộc đổ bộ lên đất Anh.
Irving có ý công kích phe Đồng Minh, cho rằng Thủ tướng Anh Winston Churchill có trách nhiệm trong việc leo thang chiến tranh, rằng Đức tấn công Nga chỉ vì muốn đánh phủ đầu ý đồ của Nga định đánh Đức.
Irving cũng cho rằng tuy Hitler là con người tàn bạo và vô cảm, ông lại không đủ sắt đá khi cần thiết. Hitler không muốn tổng động viên dân Đức, đến nỗi các nhà máy thiếu công nhân nhưng phụ nữ Đức vẫn ở nhà. Trong một thời gian, Hitler không đối phó một cách cương quyết với những người chống đối ngay trong Quân đội Đức. Hitler thường thu mình trong tổng hành dinh của ông (cũng như Shirer nhận xét là Hitler không bao giờ đi thăm những vùng bị không quân Đồng Minh thả bom).
Cần ghi nhận rằng do lập luận gây tranh cãi của Irving về cuộc tàn sát người Do Thái, các nước Áo, Canada, Israel, New Zealand, Úc và ngay cả Đức đã cấm ông đặt chân lên nước họ. Ngày 20 tháng 2 năm 2006, ông bị Áo tuyên án tù 3 năm vì lập luận đối với cuộc tàn sát người Do Thái.
Cuốn phim Der Untergang (tựa tiếng Anh: Downfall) phát hành năm 2004 trình bày những ngày cuối cùng của Adolf Hitler, dựa trên quyển sách Inside Hitler's Bunker của sử gia Joachim Fest, hồi ký của Albert Speer và hồi ký của Traudl Junge, thư ký của Adolf Hitler. Đạo diễn Oliver Hirschbiegel xác nhận các nhà làm phim muốn thể hiện nhân cách ba chiều của Hitler: một người có sức thu hút cao và không kém nhân từ, hòa nhã đối với người dưới. Phim Der Untergang nhận được đề cử Giải Oscar về phim nước ngoài hay nhất năm 2005, và đoạt giải thưởng phim ảnh của đài BBC.
Ở nước Đức không hề có đài tưởng niệm Hitler, người đã cai trị dân tộc này bằng bàn tay sắt từ năm 1933. Không ai viếng mộ, mà cũng không ai rõ là mộ ông ta nằm ở đâu. Có thể là tro cốt, và cả hộp sọ của ông, vẫn được giữ bí mật trong một kho lưu trữ của Nga. Hoặc là có thể ở một quốc gia Đông Âu nào đó mấy năm trước, chúng đã bị gió thổi tan tác. Người ta đã cố tình tạo nên huyền thoại về thi hài của Hitler. Trong những năm ngay sau cuộc Chiến tranh thế giới lần thứ hai, người ta sợ rằng những tín đồ trung kiên của Hitler có lẽ sẽ tụ tập đông đảo quanh mộ ông, và vinh danh ông. Nhưng cũng khi đó thì tất cả những thế lực chống đối Hitler đều muốn tổ chức phản đối tại địa điểm ấy. Để tránh xung đột và tranh cãi, người Liên Xô sau khi lấy được thi hài Hitler lúc chiến sự kết thúc, đã quyết định đem giấu nó đi ở nơi đâu đó. [18]

Adolf Eichmann

Bách khoa toàn thư mở Wikipedia
Bước tới: menu, tìm kiếm
Adolf Eichmann
19 tháng 3, 1906 – 31 tháng 5, 1962 (56 tuổi)
Tiểu sử
Nơi sinh Solingen, Đế quốc Đức
Nơi mất Ramla, Israel
Binh nghiệp
Phục vụ Đức Quốc xã
Thuộc Schutzstaffel
Cấp bậc Trung tá, SS
Tham chiến Đệ nhị thế chiến
Adolf Eichmann (sinh 19 tháng 3 1906– tử hình ngày 31 tháng 5 1962) là trung tá lực lượng vũ trang SS Đức Quốc xã. Vì ông có đầu óc tổ chức và có lý tưởng quốc xã sâu đậm, Eichmann được cấp trên là Reinhard Heydrich trao trách nhiệm chính trong kế hoạch thủ tiêu người Do Thái ở Châu Âu. Sau khi Đệ nhị thế chiến chấm dứt, ông bị Đồng Minh truy lùng gắt gao, phải giả giấy thông hành hội Chữ thập đỏ [1][2] chạy trốn sang sinh sống tại Argentina với cái tên giả là Ricardo Clemento. Đến năm 1960, nhân viên cục tình báo Mossad của Israel bắt được Adolf Eichmann, đưa về Israel xét xử. Năm 1962 Eichmann bị tòa án Israel kết án và xử tử hình.

Mục lục

Tiểu sử

Tiền chiến

Sinh tại Solingen, Đức, Adolf Eichmann là con trai của Adolf Karl Eichmann, một thương gia kỹ nghệ, và bà Maria Schefferling. Năm 1914 sau khi mẹ ông chết, gia đình ông dọn về Linz, Áo. Trong thời Đệ nhất thế chiến cha Eichmann phục vụ cho quân đội Đế quốc Áo-Hung. Sau cuộc chiến, ông và gia đình tiếp tục sinh sống tại Linz. Eichmann bỏ học, theo học nghề thợ máy, nhưng cũng bỏ dở. Năm 1923 ông làm cho công ty dầu mỏ của cha mình. Sau đó làm nhân viên cho các hãng dầu khí. Đến tháng 7 năm 1933 Eichmann trở về Đức.[3]
Eichmann lấy vợ tên Veronica Liebl (sinh 1909 – mất 1997)[4] ngày 21 tháng 3 năm 1935, sinh được 4 người con: Klaus Eichmann (sinh 1936 tại Berlin), Horst Adolf Eichmann (sinh 1940 tại Viên), Dieter Helmut Eichmann (sinh 1942 tại Praha), và Ricardo Francisco Eichmann (sinh 1955 tại Buenos Aires).

Gia nhập Đảng Quốc xã và lực lượng SS

Ngày 1 tháng 4 năm 1932 Eichmann nghe theo người bạn tên Ernst Kaltenbrunner ghi danh vào Đảng Quốc xã Đức và xin gia nhập lực lượng SS. Đến tháng 11 ông được làm nhân viên SS chính thức với quân số 45326. Trong năm sau, ông làm việc cho lực lượng chính quy SS, hoạt động tại Salzburg.
Tháng 11năm 1933, sau khi Đảng Quốc xã lên nắm chính quyền, Eichmann trở về Đức và được bổ sung vào ban chấp hành trại tập trung Dachau. Năm 1934 ông được cho phép làm việc cho lực lượng cảnh sát mật vụ Sicherheitspolizei, lúc bấy giờ đang bắt đầu tăng cường thế lực trong tổ chức quân sự quốc phòng của Đức Quốc xã. Eichmann được thăng chức rất nhanh trong những năm 1934 - 1937.
Năm 1938 Eichmann được cử sang Áo để tổ chức lực lượng SS trong công tác thôn tính nước Áo vào Đức. Nhờ thành công này, ông được thăng lên chức SS-Obersturmführer và đến cuối năm 1938, ông được bộ chỉ huy SS giao trách nhiệm thành lập Trung tâm di tán dân Do Thái, một văn phòng với mục đích sa thải, tống khứ người Do Thái ra khỏi nước Áo.

Thế chiến II

Trong thời gian đầu cuộc chiến, Eichmann được thăng chức đại úy (SS-Hauptsturmführer). Ông ra sức tìm cách để tống khứ dân Do Thái ra khỏi Đức và các lãnh thổ thuộc Đức. Ông cũng có liên lạc với tổ chức người Do Thái đang muốn trở về vùng đất hứa của họ để tìm phương pháp đem người Do Thái đang ở châu Âu di tán sang khu trung đông (Palestine) [cần dẫn nguồn].
Năm 1939 Eichmann về Berlin và tham gia Phòng mật vụ trung ương Đức (Reichssicherheitshauptamt RSHA), đặc nhiệm về vấn đề người Do Thái. Tháng 8 năm 1940 ông viết báo cáo Reichssicherheitshauptamt: Madagaskar Projekt về kế họach trục xuất người Do Thái sang đảo Madagascar nhưng không được tiến hành. Sau đó ông được thăng lên chức thiếu tá (SS-Sturmbannführer) và năm sau lên chức trung tá (SS-Obersturmbannführer).
Mùa thu năm 1941 Heydrich đưa Eichmann mật lệnh từ Hitler về kế hoạch thủ tiêu toàn thể dân Do Thái đang sinh sống tại các lãnh thổ châu Âu thuộc Đức.[5] Năm 1942 Heydrich ra lệnh cho Eichmann tham gia cuộc họp Wannsee, trong đó chính quyền Đức chính thức đề xuất chính sách diệt chủng dân Do Thái. Eichmann được cử làm chỉ huy công tác chuyên chở trong kế hoạch Giải pháp Tối hậu. Ông là người chịu trách nhiệm bắt bớ và tổ chức đem người Do Thái đến chỗ chết của họ ở trại tập trung rải rác khắp nơi trên đất Ba Lan.
Năm 1944 Đức tiến chiếm Hungary để ngăn phòng Liên Xô đang đe dọa miền Đông châu Âu. Eichmann lại được cử sang Hungary, đem 430.000 người Hungary gốc Do Thái vào trại tập trung và giết trong các lò ga.
Năm 1945, Heinrich Himmler ra lệnh ngưng giết dân Do Thái và tiêu hủy kế hoạch Giải đáp Tối hậu. Eichmann rất bực tức khi thấy cấp trên của mình tự dưng thay đổi chính sách như thế. Ông không tuân lệnh và tiếp tục tiêu diệt người Do Thái. Đồng thời hy vọng công tác này giúp ông tránh khỏi phải ra trận chiến đấu (vì trước đó ông đã từng bị động viên làm sĩ quan trừ bị cho lực lượng chiến đấu của SS (Waffen-SS).
Khi quân Liên Xô tràn vào Hungary, Eichmann trốn chạy về Áo. Khi đấy, Eichmann đã khét tiếng về vụ tiêu diệt dân Do Thái. Ông tìm lại bạn cũ là Kaltenbrunner nhưng bị ông này tránh mặt. Kaltenbrunner lúc bấy giờ có lẽ đã biết tên mình nằm trong danh sách tội phạm chiến tranh; sợ mang vạ lây vì thấy phe Đồng Minh đang chiến thắng và trên đường đến gần biên giới Đức và biết Eichmann sẽ bị truy lùng.

Sau thế chiến II

Eichmann bị quân Hoa Kỳ bắt, nhưng khai tên giả là "Otto Eckmann". Ông trốn thoát trại tù năm 1946 và sống lang thang vài năm tại Đức. Năm 1948 ông lấy được giấy tờ giả mạo để đi Argentina nhưng chưa dùng ngay. Năm 1950 Eichmann trốn sang Ý, giả làm người tỵ nạn với tên Riccardo Klement. Ông liên lạc qua một tu sĩ nha dòng với giám mục Alois Hudal, người tổ chức móc nối bí mật giúp những tội phạm chiến tranh Đức Quốc xã trốn sang xứ khác. Eichmann được cấp giấy giả làm nhân viên làm việc từ thiện cho hội Chữ thập đỏ quốc tế tạiGeneva và giấy thông hành của Argentina (một sinh viên nghiên cứu về Eichmann tìm được giấy thông hành này trong hồ sơ lưu trữ của tòa án năm 2007).[6])
Ngày 14 tháng 7 1950 Eichmann lên tàu trốn sang Argentina. Ông làm đủ các nghề tại thành phố Buenos Aires, từ cai nhà máy, kỹ sư ống nước đến nuôi thỏ. Gia đình của ông sau đó cũng trốn được sang Argentina.

CIA thụ động

Vào tháng 6 năm 2006, hồ sơ mật của CIA về tội phạm Đức Quốc xã và hoạt động của các tổ chức nằm vùng chống cộng của họ được công bố. Trong số 27.000 tài liệu, có một tin nhắn viết vào tháng 3 năm 1958 của cơ quan tình báo Đức BND báo cáo cho CIA biết là Eichmann đang sống tại Argentina với tên giả là "Clemens". Nhưng CIA lờ đi vì ngại rằng khi Eichmann bị bắt sẽ làm báo chí chú ý đến những chuyện không tốt về chính quyền Hoa Kỳ và Đức thời bấy giờ. Một thí dụ điển hình là cố vấn an ninh quốc gia của chính phủ Tây Đức lúc đó là Hans Globke, khi trước từng là tùy viên của Eichmann trong công tác về dân Do Thái và là người giúp thảo ra luật Nuremberg.[7][8][9] Qua yêu cầu của chính phủ Tây Đức, CIA mua chuộc báo Life để khi tường trình về hồi ký của Eichmann đừng đưa thông tin gì về Globke cho công chúng biết.[10] Khi CIA và BND biết được thông tin này thì Israel đã bỏ cuộc trong công tác truy lùng Eichmann vì không biết ông dùng tên giả nào.[10] Lúc bấy giờ chính quyền Hoa Kỳ và CIA đang chú tâm vào nguy cơ chính là Liên Xô chứ chưa có kế hoạch chính thức truy lùng tội phạm chiến tranh Đức Quốc xã.[8] Ngoài việc bảo bọc Eichmann và Globke, CIA còn che chở Reinhard Gehlen,[11] người đã chiêu mộ hàng trăm cựu nhân viên và cựu sĩ quan Đức Quốc xã vào các móc nối gián điệp bí mật của CIA tại châu Âu.

Bị bắt

Suốt thập kỷ 1950s, Simon Wiesenthal là một trong số người Do Thái cố gắng truy nã Eichmann và những thành viên Đức Quốc xã từng tham gia vào kế hoạch diệt chủng dân tộc họ. Năm 1954 Wiesenthal nhận được bưu thiệp từ người quen ở Buenos Aires cho tin Eichmann đang trốn tránh tại Argentina. Sau khi thu thập được thêm thông tin, do thám Do Thái biết được tông tích địch thực của Eichmann. Tuy nhiên, sau này Isser Harel là chỉ huy Mossad cho biết Wiesenthal hoàn toàn không có công trạng gì trong việc lùng kiếm Eichmann, mà ngược lại ông ta suýt làm hỏng kế hoạch của Mossad truy nã Eichmann và bác sĩ Josef Mengele (người nổi tiếng là dùng tù nhân Do Thái trong những thí nghiệm y khoa vô cùng tàn nhẫn).[12]
Một người khác có tham gia vào công tác tìm Eichmann là Lothar Hermann. Ông này gốc Do Thái, từng bị giam tại trại Dachau khi Eichmann đang làm giám đốc coi trại này. Khi Hermann đem gia đình sang Buenos Aires lập nghiệp thì con gái ông ta là Sylvia tình cờ qua lại thân thiết với Klaus, con trai lớn của Eichmann. Klaus khoe khoang rằng cha anh ta từng là sĩ quan gộc của Đức và đã là người phía sau thảm cảnh Holocaust. Hermann đọc báo biết về những thành viên Đức Quốc xã đang bi truy nã khắp nơi trên thế giới. Ông cho Sylvia sang thăm nhà Eichmann. Adolf Eichmann thú nhận với Sylvia về quá khứ của mình. Hermann nghe tin liền liên lạc với chính quyền Tây Đức và qua đó liên lạc với nhân viên của Israel, tham gia đặt kế hoạch bắt sống Eichmann.
Trong năm 1959, Mossad tiếp tục điều tra theo dõi và biết chắc rằng người mang tên Ricardo Klement hiện đang làm cho hãng xe Mercedes Benz ở Buenos Aires chính là thủ phạm Eichmann.[13] Chính quyền Israel ký giấy cho phép Mossad phát động âm mưu bắt Eichmann về Jerusalem để xử tội ác chiến tranh. Đầu năm 1960 nhân viên Mossad tiếp tục theo dõi sát Eichmann, ngay cả khi ông này đem hoa về tặng vợ nhân kỷ niệm 25 năm đám cưới ngày 21 thántg 3.
Ngày 11 tháng 5 1960 Eichmann bị nhóm tình báo Mossad và Shabak bắt cóc khi ông đi làm về. Eichmann vừa bước xuống khỏi xe bus cách nhà mình không xa thì bị một người đang sửa xe bên đường chận lại xin thuốc lá. Khi Eichmann cho tay vào túi lấy gói thuốc thì hai người khác ập lại khóa tay ông ta. Eichmann phản kích nhưng bị người thứ ba có võ Thái cực đạo đánh bất tỉnh.[14] Sau đó Eichmann bị giam tại căn nhà bí mật của Mossad. Tại đây ông bị tra khảo và thú tội. Điệp viên của Mosad giữ Eichmann tại nhà này cho đến khi có kế hoạch bí mật đưa ông ta về Do Thái để không bị giới chức trách Argentine cản trở (lúc ấy chính quyền Argentine có nhiều thành phần cực hữu ghét dân Do Thái). Ngày 21 tháng 5, Eichmann bị buộc uống rượu và thuốc ngủ say mèm và đưa lên máy bay, giả làm một trong toán nhân viên công đoàn Do Thái trên đường về nước.
Khi tin Eichmann bị bắt về Do Thái loan tải, nhiều nhóm chính khách cực hữu Argentine phản đối dữ dội. Chính quyền Israel lúc đầu không thú nhận đã đứng sau am mưu bắt cóc Eichmann, tuyên bố rằng một nhòm hoạt động cá nhân Do Thái đã làm việc này. Sau đó có nhiều cuộc thương lượng giải hòa giữa hai nước qua môi giới tại Liên Hiệp Quốc.[15]
Ngày 23 tháng 5 thủ tướng Israel Ben Gurion tuyên bố Eichmann bị bắt trước Quốc hội và toàn thể hội trường vỗ tay. Isser Harel sau đó viết hồi ký về âm mưu bắt Eichmann tựa đề Căn nhà trên đường Garibaldi. Sách này sau đó được soạn thành phim.

Xét xử tại Isreal

Eichmann trial news story.ogg
Eichmann tại tòa án Jerusalem. Xem phim
Ngày 11 tháng 4 năm 1961 Adolf Eichmann được đưa ra xét xử tại tòa àn Jerusalem. Ông bị kết 15 tội, trong đó có tội phi nhân, tội giết dân Do Thái, và tội đã gia nhập một đảng phái bất hợp pháp. Phiên tòa do 3 chánh án chỉ đạo: Jacob Baror, Benjamin Halevi và Yitzhak Raveh. Gideon Hausner là công tố viên. Eichmann ngồi nghe xử trong một lồng kiếng chống đạn.
Bản án cho Eichmann dựa trên tài liệu "Luật trừng phạt người trong đảng Quốc xã và đồng lõa" năm 1950.[16]
Phiên tòa này gây nhiều chấn động xôn xao trong và ngoài nước. Chính quyền Israeli khuyến khích báo chí truyền thanh truyền hình tự do đăng tải, trực tiếp đưa tin tức phim ảnh vế cuộc xử án khắp nơi. Phiên tòa bắt đầu qua những nhân chứng; phần lớn là nạn nhân Holocaust. Một trong những nhân chứng đặc biệt là sĩ quan hải quân Hoa Kỳ Michael A. Musmanno. Ông cho biết khi ông tra vấn Hermann Göring tại phiên tòa Nuremberg thì ông này nói rằng Eichmann chính là người quyết định cho người Do Thái chết theo thứ tự nào, ở nước nào, khi nào."
Hai luật sư biện hộ cho Eichmann phàn nàn rằng họ không được chất vấn các nhân chứng kia. Phần Eichmann thì tự bào chữa cho mình là "tôi chỉ nghe theo và tuân lệnh cấp trên; chưa bao giờ tôi có làm điều gì mà không do lệnh từ cấp trên (Hitler hay Himmler) bảo tôi làm" - đây là cách biện hộ rất quen thuộc của nhóm người Quốc xã bị truy tố sau cuộc chiến. Ông không chối cãi Holocaust là có thật.
Triong cuộc chất vấn tại tòa, công tố viên Hauser hỏi Eichmann có tự biết mình đã phạm tội giết hàng triệu người Do Thái. Eichamnn trả lời:"Theo luật pháp thì không, nhưng theo tình người thì ... có, vì tôi đã phạm tội trục xuất họ". Sau đó Hauser đưa bằng chứng là Eichmann đã từng tuyên bố : "Tôi sẽ vừa cười vừa nhảy vào mả của mình vì cảm giác là tôi có 5 triệu mạng người cắn rứt lương tâm của tôi đưa đến một nguồn thỏa mãn vô biên". Eichmann bào chữa rằng đó la ông nói về những "kẻ thù của Đệ tam Đế chế Đức".
Nhân chứng bên bị cáo là những sĩ quan cao cấp của Đức Quốc xã gửi tài liệu sang bào chữa cho Eichmann. Nhưng không ai ủng hộ ý kiến rằng Eichamnn gây tội ác chỉ vì nghe mệnh lệnh. Đặc biệt bằng chứng từ Otto Winkelmann, một cựu sĩ quan cao cấp của SS cho thấy Eichamnn là một người "không hề dè dặt khi dùng quyền lực, và không có giới hạn đạo đức; sẵn sàng không tuân lệnh trên nếu ông ta tự cho rằng hành động của mình nằm trong tinh thần của quốc trưởng Hitler". Cựu thiếu tướng mật vụ Franz Six thì cho rằng Eichamnn là kẻ cuồng tín theo chủ nghĩa Quốc xã và sẵn sàng làm hết mình vì đảng, và Eichmann có nhiều quyền hạn hơn các chỉ huy các bộ phận khác.
Sau 14 tuần lễ, với1.500 tài liệu và 100 nhân chứng (trong đó 90 là nạn nhân trại tập trung Do Thái), vài chục hồ sơ gửi tới từ 16 quốc gia, cuộc xét xử chấm dứt ngày 14 tháng 8. Ngày 11 tháng 12 Eichamnn bị kết án đủ 15 tội. Eichamnn đệ đơn chống án về chi tiết luật pháp của Israel. Ngày 29 tháng 5 1962 tòa án tối cao Israel bác đơn chống án của Eichamnn. Trong bản án chánh thẩm tuyên bố :"Eichmann bào chữa rằng hắn chỉ nghe lệnh trên nhưng thực ra hắn không nghe mệnh lệnh gì cả. Hắn là cấp trên của chính mình và tự ra lệnh trong các kế hoạch về dân Do Thái... ý tưởng của cái gọi là Giải pháp tối hậu đáng lý sẽ không biến dạng thành cuộc đốt da xáo thịt của hàng triệu người nếu không có đầu óc cuồng tín và lòng dạ khát máu của bị cáo và đồng lõa". Ngày 31 tháng 5 tổng thống Israel Yitzhak Ben-Zvi bác đơn xin tha của Eichmann. Một số chính khách các nước cũng viết thư xin tha mạng cho Eichamnn.[17] Ben-Zvi trả lời bằng một câu trích từ kinh thánh: "Hễ gươm ngươi đã làm người đàn bà không có con thế nào, thì mẹ ngươi cũng sẽ không có con thể ấy [18] (As your sword bereaved women, so will your mother be bereaved among women)." (1 Samuel 15:33).[19]

Tử hình

Eichmann bị treo cổ vài phút trước 12 giờ đêm ngày 31 tháng 5 năm 1962 tại nhà giam Ramla, Israel. Đây là án tử hình duy nhất của Israel, một chính thể xưa nay không dùng án tử hình. Eichmann không ăn bữa ăn cuối, chỉ uống chút rượu van đỏ của Israel. Ông cũng từ chối không dùng khăn bịt đầu khi bị treo cổ. Hai người được cử ra để kéo cần thắt cổ Eichmann, để không ai biết chính mình là người trực tiếp tác động biến cố này. [20]
Trước khi bị treo cổ, Eichmann hô to : "Đức quốc muôn năm. Áo quốc muốn năm. Argentina muôn năm. Đây là những quốc gia tôi liên hệ sâu xa nhất và tôi sẽ không quên họ. Tôi đã tuân theo lề lối của nước tôi và lá cờ của xứ tôi. Tôi đã sẵn sàng." [21]
Sau khi ông tắt thở, xác Eichmann được hỏa táng và tro của ông đem thảy vào Địa trung hải. Lý do là để không còn tông tích mộ phần để sau này không có cơ hội cho người khác lập lễ lạc tưởng niệm về Eichmann và những hành vi vô nhân của ông; và xác ông không có chỗ chôn chính thức.[22]

Hít le trong bộ quân phục
Hít le trong bộ quân phục

Kẻ giết hàng triệu người Do Thái (Kỳ 1)


Thứ hai, 13/08/2012, 04:55 (GMT+7)
Câu chuyện về tên trung tá đàn em của Hít le trong quân đội Đức Quốc xã đã giết hàng triệu người Do Thái.
Lời giới thiệu
Những cuộc tàn sát hàng triệu người Do Thái trong lịch sử thế giới là một nỗi rùng rợn tới mức dường như không một lời nào có thể diễn tả hết được sự ớn lạnh của nó. “The Final Solution” (Phương cách cuối cùng) là một cụm từ do quân đội Đức quốc xã dùng để ám chỉ quyết định sát hại hàng triệu người vô tội đó trong suốt chiến tranh thế giới thứ II. Đây là tên của một kế hoạch tàn sát hàng loạt trên phạm vi rộng và gây nên số nạn nhân thương vong lớn nhất trong lịch sử của loài người. Adolf Hitler, một tên tài phiệt hiểm độc, mang nặng đầu óc phân biệt chủng tộc đã sát hại biết bao nhiêu người một cách dã man và ghê rợn.
Một trong những mục đích của những việc này là lợi nhuận kinh tế. Sau những vụ giết hại này là việc ăn cướp của những người đã chết hàng loạt những tài sản có giá trị: hàng tấn vàng đã thu được từ những người Do Thái đã bị thảm sát. Tóc của họ bị cắt để sử dụng sản xuất các sản phẩm thương mại. 24 giờ trong một ngày, 165 ngày trong một năm, con số người bị giết luôn lên tới mức chưa từng thấy. Trong nhiều trại tị nạn, con số đó có thể lên tới khoảng 10.000 người bị giết mỗi ngày. Khắp các nơi có những tên trại giam giữ kỳ dị như Auschwitz, Dachau, Belzec, Treblinka và Buchewald sẽ mãi được nhắc đến với những sự nguyền rủa của ma quỷ.
Mục đích sâu xa hơn là Hít le muốn tạo nên một nòi giống cấp cao, không bị pha tạp bởi dòng máu Phi Á, một chủng tộc to lớn, thông minh và vĩ đại có khả năng thống trị thế giới hàng ngàn năm. Hắn muốn giết tất cả những kẻ nhu nhược, những kẻ ốm yếu và già cả. Trong thời gian đầu, những đội quân của hắn như những cơn giôn bão càn quét với sức mạnh bất khả chiến bại, đầy tràn quyền lực và không thể ngừng. Nhưng cuối cùng, tên khát máu tham vọng nhất lịch sử đó đã bị một quốc gia nghèo nàn đánh bại do một người ngồi trên chiếc xe lăn chỉ huy.
Câu chuyện dài kỳ này là câu chuyện về một kiến trúc sư của Hít le. Tên này sinh ra tại Đức nhưng lớn lên ở Áo. Hắn có thân hình mảnh khảnh với độ cao trung bình, ngoại trừ đôi chân đi hình vòng kiềng thì hắn chẳng có gì nổi bật để nhớ đến. Sau lần gặp đầu tiên, người ta dễ dàng quên hắn như quên một kẻ qua đường. Hắn thích nghe nhạc của Richard Wagner, chơi violin và nghiện nặng chocolate ngọt. Thực sự không có gì đặc biệt vê con người này, hắn giống như hàng ngàn hàng vạn người Đức khác. Ngày còn trẻ, hắn theo học để trở thành một kỹ sư xây dựng, không phải vì hắn yêu thích hay đam mê gì nhưng đơn giản là do bố hắn nghĩ điều này sẽ tốt cho con trai. Trong mọi phương diện, hắn luôn là một kẻ kém cỏi, là một sự thất vọng của gia đình đến nỗi người thân và bạn bè tin chắc rằng một tương lai u tối đang đợi hắn ở phía trước. Nhưng cũng có lẽ chính những thực tế phũ phàng này đã biến hắn thành người không của riêng ai, thậm chí không thuộc về cha mẹ hắn, và đó chính là những yếu tố làm nên con người tàn ác như lịch sử thế giới biết đến.
Tên của hắn là Adolf Eichmann, một con người có bộ não được “thiết kế” để trở thành một cỗ máy giết người. Hắn là kẻ trực tiếp ra lệnh tàn sát 100 triệu người vô tội, trong đó có cả phụ nữ và trẻ em.
Ác quỷ được sinh ra
Thật khó để nói lên hết được những sự nhục nhã ê chề, nỗi cay đắng vì bị thua cuộc của người Đức sau khi chiến tranh thế giới thứ I qua đi. Thất bại thảm hại, nhiều người Đức cảm thấy như bị lừa dối bởi những tư tưởng và khẩu hiệu ban đầu của Đức quốc xã: “một cuộc chiến để kết thúc tất cả những cuộc chiến”. Những kẻ cầm đầu đã phải ký chấp nhận những điều khoản trong hiệp ước năm 1919 sẽ mãi bị những công dân của đất nước những cỗ xe tăng thù ghét. Niềm tin của Hít le rằng danh dự của người Đức được xây lên bằng những quốc gia bị nước này chinh phục là một trong những nguyên tắc cơ bản của triết học Đức quốc xã. Chính vì thế người Đức ở những năm sau chiến tranh luôn mang nặng nỗi xấu hổ và tự xoáy sâu vào sự tức giận.
Với đầu óc đầy chiến lược và mưu mô, cùng với tham vọng tột cùng, Hít le cuối cùng cũng đã trở thành kẻ lãnh đạo của nước Đức năm 1032. Khi lên nắm quyền, hắn tiếp tục những chính sách và chiến lược thù hận người Do Thái, Công Giáo và một số nhóm tôn giáo khác vì coi đó là những kẻ “không thuần giòng máu châu Âu”. Đầu tiên, Hít le muốn trục xuất họ ra khỏi nước Đức, sau đó lại đổi ý và bỏ tù hàng ngàn người mà không cần bất cứ một phiên tòa xét xử nào. Hắn dồn hàng ngàn người vào những “trại tị nạn”. Nhưng dần dần, số người bị giam giữ trở nên quá đông và không thể kiểm soát xuể nên việc giết “dân dần” trở thành một trong những chính sách tạm thời. Những tên lính gác cứ thoải mái gây ra biết bao cảnh chết chóc còn những kẻ đứng đầu thì làm ngơ đi.
Mời các bạn đón đọc Kẻ giết hàng triệu người Do Thái (Kỳ 2) vào SÁNG SỚM thứ Tư ngày 15/8/2012.

Friday, August 3, 2012

IBM SPSS Statistics v20 (Full Crack)


[DOWNLOAD] IBM SPSS Statistics v20 (Full Crack)

Gửi bàigửi bởi ngọc tài » Thứ 7 04/08/12 8:51
Hình ảnh


Nhận xét:

SPSS dường như đang ra mắt các phiên bản mới với tốc độ nhanh chóng mặt, hiện tại phiên bản mới nhất là 20.

Đôi khi nó sẽ gây đôi chút khó chịu cho bạn khi mà phải liên tục làm quen với những cập nhật mới. Tuy nhiên, SPSS đã thực sự làm nên những điều tuyệt vời cho các phiên bản gần đây.

SPSS giúp bạn phân tích dữ liệu, dự báo tương lai, từ đó lên kế hoạch cụ thể cải thiện kết quả kinh doanh. Không chỉ vậy, SPSS cũng giúp bạn phát hiện ra được những yếu tố không thể dự đoán trước được, điều này góp phần làm giảm thiểu những rủi ro không được dự báo trước.

Những điểm trên chính là sức mạnh ưu việt của SPSS!!!

Download:

Phần mềm IBM SPSS Statistics v20 có 2 phiên bản: một bản dành cho windows 32 bit (các máy cũ), một bản dành cho windows 64 bit (các máy mới sau này).

Để biết rõ xem máy tính mình đang dùng là 32 bit hay 64 bit thì cách đơn giản nhất là: Chạy Run --> gõ dxdiag, ở dòng Operating System: coi version và Build của hệ điều hành là biết ngay là phiên bản nào ngay, bạn có thể tham khảo rõ hơn trên trang web Microsoft về cách coi version.

IBM SPSS Statistics v20 x86 (Phiên bản dành cho Windows 32 bit)

sau khi tải về giải nén copy vào chung một thư mục:

https://docs.google.com/file/d/0B1_bOBz2ATBhX3FXeHNKWEN1a1U/edit
https://docs.google.com/file/d/0B1_bOBz2ATBhWmRCVElHSXFobXc/edit
https://docs.google.com/file/d/0B1_bOBz2ATBhNWJZYzJIRFU3bzQ/edit
https://docs.google.com/file/d/0B1_bOBz2ATBhQUhRUUc4dHFuTGM/edit
https://docs.google.com/file/d/0B1_bOBz2ATBhWHQzWmVrdzgzQ0U/edit
https://docs.google.com/file/d/0B1_bOBz2ATBhRlc1eGhoWEk3czg/edit
https://docs.google.com/file/d/0B1_bOBz2ATBhQ2pqOEJxenAtc2c/edit
https://docs.google.com/file/d/0B1_bOBz2ATBhM0h1Wno5UjFpX00/edit
https://docs.google.com/file/d/0B1_bOBz2ATBhSFAwa1FKQXV2eDg/edit
https://docs.google.com/file/d/0B1_bOBz2ATBhcHkwaDZadWppZ0U/edit
https://docs.google.com/file/d/0B1_bOBz2ATBhMWdZUW1qQWExUFE/edit
:
 FSHARE 2455130 gửi 8770. để ủng hộ mình xin cảm ơn.

IBM SPSS Statistics v20 x64 (Phiên bản dành cho Windows 64 bit)

sẽ up trong vài ngày tới, nhớ ủng hộ mình bằng tin nhắn nha. đã cập nhật spss21 trên blog.



Thursday, August 2, 2012

Con người biết dùng độc từ khi nào?

Con người biết dùng độc từ khi nào?


Loại độc dược cổ xưa nhất từng được phát hiện cho thấy nền văn minh nhân loại phải khởi phát sớm hơn suy nghĩ trước đây tới 20.000 năm.

Các cổ vật tìm thấy trong hang động tại Nam Phi cho thấy thời Đồ đá cuối có niên đại sớm hơn tới 20.000 năm so với giả thiết trước đây.
Việc phân tích các cổ vật tìm thấy trong một hang động ở Nam Phi tiết lộ rằng, các cư dân cổ đại đã sử dụng nhiều công cụ bằng xương, thuốc nhuộm, xâu chuỗi hạt và thậm chí là sử dụng cả thuốc độc. Điều đó đồng nghĩa với việc chúng thuộc về thời Đồ Đá muộn, thay vì nền văn minh San như giả thiết trước đây. “Nghiên cứu của chúng tôi chứng minh rằng thời Đồ đá muộn xuất hiện ở Nam Phi sớm hơn nhiều so với suy nghĩ trước đây, cùng thời điểm với người hiện đại đổ bộ tới châu Âu”, nhà nghiên cứu Paola Villa của Viện bảo tàng Lịch sử Tự nhiên Đại học Colorado chia sẻ trên LiveScience.
Tuy nhiên, sự khác biệt về công nghệ và văn hóa giữa hai khu vực châu Âu và châu Phi là rất mạnh. Vì vậy mà những công dân ở đây cũng lựa chọn hướng tiến hóa về công nghệ và xã hội hoàn toàn khác nhau, Villa nói thêm.
Trong số các đồ vật tìm thấy có những chuỗi hạt được làm từ vỏ sò, những mảnh xương được vót nhọn nhiều khả năng được sử dụng làm tên bắn.
Đặc biệt nhất, các nhà khảo cổ đã tìm thấy một tảng sáp ong trộn chung với nhựa cây có độc, nhiều khả năng được sử dụng để bôi vào đầu các mũi tên hoặc mũi giáo để phòng vệ hay tấn công kẻ địch. Tảng sáp ong này có niên đại khoảng 35.000 năm trước, cũng tức là tảng sáp ong được con người sử dụng làm công cụ cổ nhất từng được tìm thấy.
Chưa hết, họ còn tìm thấy một que gỗ mảnh – toàn thân đầy vết xước. Việc phân tích hóa chất cho thấy dấu vết của acid ricinoleic, một độc dược tự nhiên thường được tìm thấy trong cơ thể loài hải ly. Các nhà khảo cổ phán đoán người cổ đại đã sử dụng chiếc que này để bôi chất độc lên mũi tên hoặc mũi giáo. Với niên đại khoảng 20.000 năm, đây là bằng chứng đầu tiên về việc dùng độc từng được phát hiện.

Tuesday, July 31, 2012

10 điện thoại 'siêu rẻ' bán chạy nhất trong tháng

Tiếp tục xu hướng điện thoại giá rẻ lên ngôi, tháng 7 này, phân khúc cấp thấp tiếp tục “làm mưa, làm gió” trên thị trường di động Việt. Đặc biệt là những chú “dế” có mức giá chưa tới 500 ngàn đồng của Nokia…

TCL 217D (369 ngàn đồng)

Cho tới thời điểm này, TCL 217D vẫn vô địch về mức giá rẻ trên thị trường, được nhiều người dùng chuộng nhất. TCL 217D được trang bị nhiều tính năng hữu ích, hỗ trợ tính năng 2 sim 2 sóng tiện lợi.
10 điện thoại 'siêu rẻ' bán chạy nhất trong tháng
 

Máy tích hợp tính năng hạn chế thời gian gọi. Ngoài ra, TCL 217D có thể phát FM mà không cần đến tai nghe, đèn pin sáng cũng được tích hợp trên thiết bị.

Samsung E1050 (399 ngàn đồng)

Samsung E1050 mang vẻ nữ tính với thiết kế dạng thanh, đường viền xung quanh máy bo tròn. Mang đúng nghĩa giá rẻ, dế này chỉ được trang bị bộ nhớ trong 1MB. Máy cũng được hỗ trợ 65 ngàn màu, tích hợp cổng sạc microUSB.
10 điện thoại 'siêu rẻ' bán chạy nhất trong tháng
 

Danh bạ của Samsung E1050 được phép lưu trữ 500 số điện thoại liên lạc. Đây là một chú “dế” thuộc dòng pin khủng, có thể đàm thoại liên tục trong 5 giờ và thời gian chờ là 25 ngày.

Đây là mẫu điện thoại giá rẻ thích hợp cho những người thường xuyên phải sử dụng điện thoại để nghe nhận cuộc gọi.

Nokia 1280 (450 ngàn đồng)

Dù đã có mặt trên thị trường gần 2 năm, song “dế” Nokia 1280 vẫn chưa hề lỗi mốt. Trong nhiều tháng qua, đây vẫn là chiếc điện thoại giá rẻ được nhiều khách hàng lựa chọn nhất.
10 điện thoại 'siêu rẻ' bán chạy nhất trong tháng
 

Nokia 1280 có tuổi thọ pin dài, bàn phím chống bụi và lớp vỏ chống xước. Nó chính là chiếc điện thoại lý tưởng cho cuộc sống hàng ngày. Máy cho phép người sử dụng pin đàm thoại liên tục 8 giờ 30 phút và thời gian chờ lên đến 22 ngày.

Về thiết kế, Nokia 1280 được trang bị một bàn phím với khả năng chống bụi và chống xước, khả năng hỗ trợ băng tần dual-band GSM, màn hình hiển thị đơn sắc, giao diện hệ điều hành S30, trang bị lịch nhắc nhở, đồng hồ báo thức, đài FM, khe cắm jack tai nghe 3.5mm.

Gionee B168 (499 ngàn đồng)


GioNee B168 thuộc dòng sản phẩm phổ thông, hỗ trợ 2 sim 2 sóng. GioNee B168 được trang bị khe cắm thẻ nhớ mở rộng lên đến 8GB.
10 điện thoại 'siêu rẻ' bán chạy nhất trong tháng
 
 

B168 hỗ trợ đầy đủ các tính năng giải trí như nghe nhạc, xem phim và game bắn máy bay được cài sẵn. Ngoài ra, máy còn tích hợp nghe đài FM và đèn pin đi kèm. B168 trang bị pin dung lượng 1000 mAh cho phép đàm thoại liên tục 5 giờ và thời gian chờ lên đến 200 giờ.

Nokia C1-00 (600 ngàn đồng)

C1-00 là một trong hai chiếc di động hỗ trợ 2 SIM đầu tiên của Nokia. Máy có bộ vỏ bằng nhựa, khá nhẹ và gọn gàng, nhỏ dần về hai đầu. Ngoài tính năng hai SIM với 2 khe cắm ở dưới pin, model này còn có giắc cắm tai nghe 3,5 mm, đài FM và một đèn pin phía trên.
10 điện thoại 'siêu rẻ' bán chạy nhất trong tháng
 

C1-00 có kiểu dáng đơn giản, như nhiều mẫu di động giá rẻ từ Nokia, phía trên là màn hình màu TFT hỗ trợ 65 nghìn màu, rộng 1,8 inch, độ phân giải chỉ 128 x 160 pixel. Pin theo máy dung lượng 1.020 mAh. Nokia cho biết, thời gian đàm thoại liên tục lên tới 13 giờ, trong khi thời gian chờ là 48 ngày.

Nokia 101 (700 ngàn đồng)
 
Nokia 101 được trang bị màn hình hiển thị 1,8 inch độ phân giải 128×160 pixels, khe cắm thẻ nhớ microSD có thể mở rộng tới 16GB, nghe nhạc MP3, FM, giắc cắm tai nghe 3.5mm.
10 điện thoại 'siêu rẻ' bán chạy nhất trong tháng
 

Máy sử dụng pin 800mAh cho phép thời gian đàm thoại lên đến 7 giờ, 25 ngày ở chế độ chờ và 26 giờ nghe nhạc với tai nghe ở mức âm lượng 50%.


Nokia 110 (999 ngàn đồng)


Hôm 6/6/2012, Nokia đã tung ra thị trường chiếc điện thoại có giá thấp nhất trong số các dòng điện thoại có khả năng truy cập Internet của mình, Nokia 110. Ngay lập tức, chú "dế" này đã hấp dẫn khá nhiều khách hàng Việt, đặc biệt là giới trẻ.
10 điện thoại 'siêu rẻ' bán chạy nhất trong tháng
 

“Dế” được trang bị trình duyệt Nokia Browser, cùng công nghệ điện toán đám mây giúp cho việc lướt web, truy cập các nội dung yêu thích như nghe nhạc, xem hình, đọc báo nhanh và mượt mà.

Nằm ở phân khúc giá rẻ dưới 1 triệu đồng nhưng Nokia 110 vẫn được trang bị các công nghệ cao như truy cập Internet, mạng xã hội, chat đa tài khoản, tải ứng dụng giống như các smartphone cao cấp. Sản phẩm trang bị bàn phím chống bụi có độ đàn hồi cao và êm. Điện thoại Nokia 110 sử dụng công nghệ đổi SIM nhanh, cho phép người dùng có thể đổi SIM mà không phải tháo pin hay tắt máy.

Nokia X1-01 (1 triệu đồng)

Nokia X1-01 được thiết kế hướng đến nhóm người dùng có nhu cầu sử dụng 1 chiếc điện thoại 2 SIM kèm tính năng nghe nhạc di động. Máy hỗ trợ 2 SIM ở chế độ chờ kép (2 SIM 2 sóng đồng thời), cho phép người dùng tự cá nhân hóa hình đại diện, nhạc chuông cho mỗi thẻ SIM, hỗ trợ tính năng thiết lập thẻ SIM mặc định để thoại hay tin nhắn.
10 điện thoại 'siêu rẻ' bán chạy nhất trong tháng
 

X1-01 trang bị màn hình, nhạc chuông đa âm, tích hợp máy phát nhạc MP3 với loa ngoài cực lớn và cung cấp 3 phím âm nhạc chuyên dụng trên thân máy. X1-01 hỗ trợ khe cắm thẻ nhớ mở rộng lên đến 16GB (có khả năng thay nóng), trang bị ngõ cắm tai nghe 3,5mm thông dụng và quan trọng nhất là pin đi kèm máy với dung lượng lớn cho phép nghe nhạc liên tục trong 36 giờ (thời gian chờ lên đến 43 ngày).

LG GU285 (1,2 triệu đồng)


LG GU285 là mẫu điện thoại tích hợp công nghệ 3G, GPRS, EDGE nhưng thân thiện với người dùng và mức giá khá bình dân, chỉ 1,2 triệu đồng. Điểm cộng là model này có tốc độ truy cập qua 3G hay EDGE của khá nhanh.
10 điện thoại 'siêu rẻ' bán chạy nhất trong tháng
 

Được thiết kế dạng trượt với hình dáng nhỏ gọn, GU285 được trang bị các tiện ích 3G như đàm thọai video với camera 1.3MP, internet trình duyệt WAP 2.0, Java 2.0 cho phép lướt web tốc độ 3G lên đến 7,2Mb/s và TV online. Ngoài ra, GU285 cũng có tính năng làm modem để truy cập Internet tốc độ cao.

GU285 có màn hình TFT 2 inch 256.000 màu, độ phân giải 176 x 220 pixel, tạm ổn với màu sắc tươi tắn tuy không thật sự sắc nét, nhưng thuộc loại khá với những mẫu điện thoại tương đương.

GU285 còn có tính năng chặn các cuộc gọi spam và bảo mật riêng tư các thông tin nhạy cảm. GU285 sử dụng mạng GSM 4 băng tần, 3G 2 băng tần, dung lượng pin 900mAh cho phép thời gian thoại lên đến 6 giờ, thời gian chờ 700 giờ.

Samsung Champ C3303 (1,29 triệu đồng)

Samsung Champ C3303 là sản phẩm là điện thoại cảm ứng rẻ nhất thị trường hiện nay. Nó có màn hình cảm ứng rộng 2.4 inch. Tuy màn hình cảm ứng không nhạy xuất sắc như các dòng điện thoại cảm ứng đắt tiền khác nhưng bù lại Samsung C3303 lại có thiết kế nhỏ gọn, rất vừa tay, màu sắc trẻ trung và hiện đại.
10 điện thoại 'siêu rẻ' bán chạy nhất trong tháng
 

"Dế" được trang bị camera 1,3 Megapixel, kết nối Bluetooth, GPRS, tích hợp đài FM cùng khả năng nghe nhạc nhiều định dạng.

Máy có thể lưu danh bạ 1000 số; Bộ nhớ trong 30 MB, hỗ trợ thẻ nhớ lên đến 8 GB, dung lượng pin 1000 mAh. Samsung Champ C3303 có 4 màu đen, nâu, trắng, hồng. Điểm yếu của Samsung Champ C3303 là không có hỗ trợ 3G, wifi.

Microsoft-bien-moi-be-mat-thanh-man-hinh-cam-ung

Microsoft biến mọi bề mặt thành màn hình cảm ứng

Không chỉ đơn giản chiếu nội dung trong điện thoại, tablet lên tường, bàn tay..., người sử dụng còn có thể thao tác ngay trên màn hình ảo đó mà không cần chạm vào thiết bị.

Bàn tay trở thành màn hình cảm ứng.
Bàn tay trở thành màn hình cảm ứng.
Tại phòng nghiên cứu ở Redmond, Washington (Mỹ), Microsoft đang tập trung phát triển một thiết bị kết hợp giữa camera và máy chiếu có cơ chế hoạt động khá giống kính Google Glass. Sự khác biệt giữa hai bên là Google giúp người sử dụng xem nội dung rõ nét ngay bên trong màn hình nhỏ bé của kính, còn Microsoft lại nghĩ đến chuyện phát hình ảnh đó ra bên ngoài.
Với công nghệ Wearable Multitouch Projector (máy chiếu đa điểm có thể đeo trên người) của Microsoft, một bức tường, quyển sách, bàn tay... sẽ trở thành màn hình cảm ứng tức thì để người sử dụng mở ứng dụng, vẽ tranh, bật video... và mọi tính năng khác có trong smartphone.
Video trình diễn Wearable Multitouch Projector.
Có thể khi xem đoạn demo do CNN thực hiện, người ta sẽ cảm thấy thiết bị của Microsoft trông quá kỳ cục và cồng kềnh. Nhưng mọi thứ đều cần có thời gian để phát triển và tập đoàn phần mềm Mỹ khẳng định vài năm nữa, sản phẩm sẽ được thu nhỏ để nằm gọn bên trong thiết bị di động như kính giống Google Glass, đồng hồ đeo tay, mặt dây chuyền hay thay thế camera trong điện thoại... Những chiếc kính đầu tiên của Google Project Glass cũng xấu xí chứ không ấn tượng như hiện nay.
Thiết bị của Microsoft hiện khá thô kệch.
Thiết bị của Microsoft được gắn trên vai và còn khá thô kệch.
Giống như Google Glass giai đoạn đầu rất to thay vì nhỏ gọn như hiện nay.
Giống như Google Glass giai đoạn đầu rất to thay vì nhỏ gọn như hiện nay.

Tìm thấy hố thiên thạch tiêu diệt loài khủng long

Tìm thấy hố thiên thạch tiêu diệt loài khủng long

Các nhà khoa học đã chứng minh rằng một miệng hố lớn đường kính đến 25 km phát hiện trên đảo Victoria (quần đảo thuộc Canada) hình thành do một trận mưa thiên thạch đã giết chết toàn bộ loài khủng long, theo một bài đăng trên báo The Toronto Star.
Hố thiên thạch Albert chụp từ trên cao.
Các nhà khoa học Trường ĐH Saskatchewan (Canada) đã nhìn thấy miệng hố trong một chuyến bay khảo sát trên đảo bằng máy bay trực thăng cách đây 2 năm.
Một trong những người phát hiện, ông Brian Pratt, nghiên cứu viên Trường ĐH Saskatchewan cho biết: “Đây là một vết nứt rất lớn mà khoa học chưa bao giờ biết đến, được tìm ra hoàn toàn bất ngờ. Chúng tôi đã lập bản đồ cho Cục tài nguyên thiên nhiên của Canada về một trong những "góc khuất” của đất nước”.
Những dữ liệu thu thập được trong 2 năm qua đã khẳng định giả thuyết về nguồn gốc vũ trụ của địa điểm có địa hình độc đáo này. Tuổi của miệng hố, được đặt tên là Hoàng tử Albert (cũng là tên của chính bán đảo này) ước tính từ 130 đến 350 triệu năm.
Các nhà khoa học cho rằng việc các thiên thạch rơi xuống đã làm khí hậu của hành tinh thay đổi hẳn và làm tuyệt chủng cả một loài sinh vật đang thông trị thế giới hồi đó là khủng long.
Theo nhận định của TS Pratt, một miệng hố lớn đến vậy chỉ là kết quả rơi của một thiên thạch có đường kính tới 5 kilomét. Một sự kiện lớn tầm cỡ đó thường trong 1 triệu đến 3 triệu năm mói xảy ra 1 lần trên hành tinh của chúng ta. Nhưng quá trình bào mòn và phong góa suốt hàng trăm triệu năm đã làm nó biến dạng, mở rộng ra và có địa hình phức tạp như hiện nay.
Bảo Châu

Google Nexus 7 về Việt Nam, giá 6,88 triệu đồng

Google Nexus 7 về Việt Nam, giá 6,88 triệu đồng

Đánh giá

1
2
3
4
5
6
7
8
9

Hải Mỹ
Máy tính bảng của Google được một cửa hàng trên đường Pasteur, Quận 1, TP.HCM nhập về hôm nay (31/7) với số lượng rất hạn chế. Giá bán bản 8GB và 16GB lần lượt là 6,88 và 7,88 triệu đồng.
Trong lúc Nexus 7 liên tục “cháy hàng” và Google đã tạm dừng bán phiên bản 16GB, cửa hàng trên cho biết đã nhập được về 20 chiếc (gồm cả 2 phiên bản 8GB và 16 GB) trong đợt đầu.
Ảnh: Anh Tài
Giá Google Nexus 7 do cửa hàng này bán ra là 6,88 triệu đồng cho bản 8GB (chênh so với giá của Google gần 3 triệu đồng) và 7,88 triệu đồng cho bản 16GB. Mặc dù đã bù cả chi phí vận chuyển, đặt hàng, mức giá này có sự chênh lệch khá cao giữa giá gốc và giá bán ra so với các thiết bị xách tay khác. Nhưng trong hoàn cảnh “khan hàng” như hiện nay, giá này vẫn được một bộ phận người tiêu dùng chấp nhận.
Theo một nhân viên phụ trách marketing của cửa hàng, tính đến nay đã có hơn 50 khách hàng đặt mua nên vẫn còn rất nhiều khách hàng phải chờ đợi đợt hàng tiếp theo.
Chiếc Google Nexus 7 có thiết kế bên ngoài rất ấn tượng với độ mỏng chỉ 10,45mm, nặng 340 gram.
Ảnh: Anh Tài
Mặt sau máy được làm bằng nhựa, bề mặt vỏ có vân chìm tạo cảm giác thoải mái, chắc chắn khi cầm máy, chống trơn trượt và tạo vẻ sang trọng.
Ảnh: Anh Tài
Logo NEXUS và ASUS được khắc chìm trên thân máy, phía cuối thân là khe màng loa chạy dọc ngang thân. Giắc cắm tai nghe và cổng kết nối Micro USB được làm bên dưới máy, trong khi nút Power và nút chỉnh âm lượng được tích hợp bên hông phải.
Ảnh: Anh Tài
Tuy không có camera chụp hình phía sau máy như một tablet giá rẻ khác là Kindle Fire, nhưng Nexus 7 tích hợp camera phía trước khá tiện lợi dành cho chat video như Skype, Yahoo…
Ảnh: Anh Tài
Theo đánh giá chung trên nhiều website công nghệ, Google Nexus 7 gây ấn tượng ở màn màn hình có độ sáng 400 nit, thể hiện rõ nét các chi tiết trong chữ, hình ảnh hay video. Góc nhìn và độ tương phản nhìn từ hướng nào cũng vẫn sắc nét.
Hộp và phụ kiện đi kèm Nexus 7. Ảnh: Anh Tài
Nexus 7 được trang bị chip Tegra lõi tứ, GPU 12 nhân xử lý, RAM 1GB, chạy hệ điều hành Android 4.1 (Jelly Bean) của Google. Máy cũng được trang bị kết nối WiFi b/g/n, Bluetooth, GPS, NFC. Pin dung lượng 4325 mAh.